|
|
|
Nhận định bước đầu về nuôi cá tra sinh thái ở An Giang
WAG, 16/2/2005
Hiện nay các nước phát triển giàu có, đặc biệt với thu nhập cao của người Âu Mỹ thì họ sẵn sàng trả giá cao hơn hẳn để có nguồn thực phẩm mà họ hoàn toàn yên tâm sử dụng. Do đó, hướng phát triển các sản phẩm sinh học hay sự trở về với các sản phẩm thiên nhiên, ngày càng được người tiêu dùng ở các nước phát triển ưa chuộng.
Thế nào là một sản phẩm sinh học? Hiểu theo một cách tổng quát, sản phẩm ấy không có dư lượng hoá chất độc hại cho cơ thể, khi nuôi trồng phải giữ vững việc bảo vệ môi trường sinh thái, không thải ra môi trường các chất độc hại.
Đối với các sản phẩm sinh thái; nhà sản xuất phải tuân thủ các điều kiện rất khắt khe và phải được cơ quan kiểm định cấp giấy chứng nhận là sản phẩm sinh học.
Trên thế giới, số cơ quan cấp giấy chứng nhận "Bio" không nhiều, ở Cộng hoà Liên bang Đức có tổ chức Naturland là cơ quan rất có uy tín, thường xuyên kết hợp với chương trình cổ động nhập khẩu Thụy Sĩ (Swiss Import promotion program gọi tắt là SIPPO) tổ chức nuôi trồng chứng nhận sản phẩm sinh thái, đặc biệt trong lĩnh vực nuôi cá.
Tại Việt Nam, các tổ chức này đã triển khai chương trình nuôi tôm sinh thái tại Cà Mau, được người dân hưởng ứng và sản phẩm được tiêu thụ hết trên thị trường thế giới.
Với bao thăng trầm của nghề nuôi cá tra, cá basa ở Việt Nam, nhất là sau vụ kiện của Mỹ kiện Việt Nam bán phá giá cá da trơn đông lạnh, thì mặt hàng này đã có hầu như khắp thế giới, và được nhiều người ưa chuộng. Tuy nhiên, với giá trôi nổi trên thị trường, nhiều người vẫn còn e ngại về vệ sinh an toàn và chất lượng.
Để tạo ra sản phẩm có thể đáp ứng các điều kiện trên, vấn đề nuôi cá tra sinh thái được Hiệp Hội Thủy sản quan tâm, cộng với sự khảo sát thăm dò của cơ quan SIPPO Thụy Sĩ, mô hình nuôi cá tra sinh thái đầu tiên của Việt Nam được thực hiện tại An Giang.
Mô hình nuôi cá tra sinh thái được thực hiện vùng bãi bồi ven sông xã Mỹ Hòa Hưng, tận dụng dòng chảy tự nhiên của dòng sông thả cá để nuôi, bằng cách dùng lưới Inox đăng chung quanh được gọi là đăng quầng nuôi cá. Với diện tích nuôi 327m2 độ sâu bình quân 3m, chỉ được thả tối đa 90.000 con cá giống nhằm đảm bảo mật độ dưới 10kg/m3 nước.
Mô hình nuôi được sự kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ của tập đoàn IMO (Institule for Marketecology) Thụy Sĩ, tập đoàn này giám sát trại nuôi phải tuân thủ 10 điều khoản của Naturland đề ra. Sau đó sẽ được cấp giấy chứng nhận và bảo đảm có công ty mua sản phẩm bằng giá thoả thuận.
Với sự tổ chức đồng bộ SIPPO đã tìm đối tác cho Hiệp Hội Thủy sản An Giang thực hiện mô hình nuôi là Công ty Binca Seafood của Cộng hòa Liên bang Đức. Trên tinh thần hợp tác cùng cố gắng thực hiện thử nghiệm mô hình nuôi, Công ty Binca Seafood ứng chi phí mua các sản phẩm sinh thái dùng làm thức ăn cho cá, như lúa mùa nổi của dân tộc Khmer tại huyện Tri Tôn (lúa không sử dụng thuốc trừ sâu), bánh dầu đậu nành tại Trung Quốc đã được Naturland chứng nhận là đậu nành sinh thái. Phía người nuôi chịu chi phí xây dựng cơ bản, tiền con giống và bột cá làm thức ăn, tổ chức nuôi dưới sự giám sát của IMO, sau khi thu hoạch tính toán giá thành thực tế cộng phần lãi cho người nuôi từ 15 đến 20% trung bình từ 2.500 đến 3.000đ/kg.
Đến nay, mô hình nuôi thực hiện được 5 tháng cá phát triển tương đối tốt, ít hao hụt do nuôi mật độ thưa, dự kiến đến tháng 01/2005 sẽ thu hoạch. Qua mô hình nuôi thử nghiệm này, mặc dù có nhiều khó khăn nhưng mô hình rất có triển vọng để nhân rộng và có nhiều ưu điểm:
- Giữ môi trường nuôi an toàn, nhất là bảo đảm điều kiện vệ sinh nguồn nước cho cộng đồng dân cư, do nuôi ở mật độ thưa, không xài hoá chất xử lý cá bệnh.
- Điều kiện nuôi rất gần với thiên nhiên, cá bơi lội tự nhiên, thịt cá trắng, săn chắc, hàm lượng mỡ thấp (đã được kiểm định tại Nafiquavet Cần Thơ).
- Sản phẩm đã được chứng nhận bao tiêu với giá ổn định mặc dù mức lãi có thấp nhưng tạo ra tâm lý an toàn cho người nuôi. Tránh được sự thiệt hại với thời giá thị trường bấp bênh.
Với các thuận lợi trên thì mô hình có nhiều triển vọng tăng sản lượng nuôi. Tuy nhiên, ta còn gặp nhiều khó khăn trong quá trình nuôi, đặc biệt là giải quyết các sản phẩm sinh thái làm thức ăn cho cá nuôi như cám, bánh dầu đậu nành sinh thái, cá tạp... do chúng ta chưa có quy hoạch vùng trồng sản phẩm "Bio" được cấp giấy chứng nhận, ta phải nhập bánh dầu đậu nành từ Trung Quốc và 2005 sẽ nhập cám từ Campuchia.
Các sản phẩm dùng làm thức ăn phải được chế biến thành viên, nhưng với qui mô trang trại nhỏ, không có điều kiện trang bị máy dập viên công nghiệp, trại phải sử dụng máy tự chế thô sơ, viên thức ăn còn độ tan rã cao nên khi nuôi thức ăn bị hao hụt. Lượng thức ăn tiêu tốn cao do bị rã trong môi trường nước, bên cạnh đó đăng quầng nuôi bằng Inox, mắt lưới thưa, lượng cá tạp ngoài sông chui vào rất nhiều, cũng làm hao hụt lớn lượng thức ăn đội chi phí lên cao. Với giá cám sinh thái là 4.000đ/kg và bã đậu nành sinh thái nhập từ Trung Quốc gần 9.000đ/kg thì giá bán cá từ 22.000 đến 23.000 đồng/kg người nuôi mới có lãi.
Khi có thị trường tiêu thụ sản phẩm sinh thái với số lượng lớn, mô hình này có nhiều triển vọng phát triển theo xu thế chung an toàn, chất lượng. Việc cung cấp thức ăn cho cá là cần thiết, ta có thể qui hoạch vùng trồng các sản phẩm sinh thái, nhất là vùng lúa mùa truyền thống ở hai huyện Tri Tôn, Tịnh Biên của An Giang. Ngoài ra, việc lắp đặt một dây chuyền làm thức ăn viên nổi chuyên cho cá nuôi sinh thái là rất cần thiết, nhằm tránh hao hụt và hạn chế sự tranh mồi của cá tạp.
Với nhu cầu tiêu thụ ngày càng cao sản phẩm cá tra, cá basa trên thị trường thế giới, nhiều nơi ồ ạt đua nhau nuôi cá tra xuất khẩu và có thể ở các nước khác như Lào, Campuchia, Trung Quốc... Chiến lược nuôi cá tra sinh thái là hướng đi mới, An Giang là nơi đầu tiên trên thế giới thực hiện mô hình nuôi cá tra sinh thái, mô hình nuôi này sẽ gắn thêm uy tín, chất lượng và xuất xứ sản phẩm cá da trơn của tỉnh; góp phần tăng thêm kim ngạch xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế của tỉnh.
Nguồn Thông tin KHCN số 1/2005