Free Web Hosting by Netfirms
Web Hosting by Netfirms | Free Domain Names by Netfirms

Để mô hình tôm lúa ĐBSCL phát triển bền vững: Phải cân bằng giữa con tôm và cây lúa

BCT, 15/2/2005

 

Theo nhận định của Vụ Nuôi trồng Thủy sản (NTTS), Bộ Thủy sản, các tỉnh ven biển ĐBSCL là nơi có tiềm năng NTTS lớn trong điều kiện nước lợ và nước ngọt. Đặc biệt ưu thế vẫn là nuôi nước lợ, mà chủ yếu nuôi tôm. Những năm qua, con tôm ĐBSCL góp phần đáng kể vào kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Tuy nhiên, do chạy theo lợi nhuận, nhiều mô hình tôm sú bền vững đã bị xem nhẹ, làm ảnh hưởng đến cân bằng sinh thái. Từ đó diện tích nuôi tôm bị thiệt hại hàng năm ở các tỉnh ĐBSCL gần như tăng tỷ lệ thuận với phát triển diện tích. Để nghề nuôi tôm sú đồng bằng bền vững, bảo vệ môi trường sinh thái, các tỉnh đồng bằng cần có những giải pháp gì?

THỰC TRẠNG ĐƯỢC NHẬN DIỆN

Tiến sĩ Nguyễn Văn Thành, Phó Vụ trưởng Vụ Nuôi trồng Thủy sản cho biết: “Ở ĐBSCL với đặc điểm thổ nhưỡng, đất bị nhiễm mặn chiếm tỷ lệ lớn do địa hình có lòng chảo, cao dần hướng ra biển (cao gần 1,8 mét), còn đa số địa hình thấp (chỉ khoảng 0,25 - 0,4 mét). Hai bờ Đông và Tây (biển Đông và vịnh Thái Lan) cao và thoải dần về phía trung tâm, vì vậy ảnh hưởng đến thủy triều, có thể xâm nhập rất sâu vào nội địa. Những đặc điểm này rất khó khăn trong việc chuyên trồng lúa, do ảnh hưởng của sự xâm nhập mặn. Song, đây là điều kiện thuận lợi cho việc canh tác nước lợ: 1 vụ tôm - 1 vụ lúa”. Nghị quyết 09/2000/NQ - CP của Chính phủ xác định: Với loại đất lúa kém hiệu quả thì chuyển sang sản xuất các loại sản phẩm khác có hiệu quả kinh tế cao hơn,... đất trũng và đất ven biển chuyển sang nghề NTTS. Và nuôi tôm được xác định là nghề nuôi chủ lực trong NTTS ở ĐBSCL và cả nước.

Trong những năm qua, diện tích đất nông nghiệp, chủ yếu là đất lúa kém hiệu quả được chuyển đổi sang NTTS diễn ra mạnh mẽ ở các tỉnh ĐBSCL. Theo Bộ Thủy sản, chỉ trong vòng 4 năm (2001 - 2004) các tỉnh ĐBSCL đã chuyển được gần 320.000 ha đất nông nghiệp sang NTTS. Điều này kéo theo diện tích nuôi tôm, sản lượng tôm liên tục tăng. Năm 2001 diện tích nuôi tôm các tỉnh đồng bằng là 398.965 ha thì năm 2004 đã tăng lên 521.335 ha (tăng 10%/năm) và sản lượng từ 127.899 tấn tăng lên 235.189 tấn. Nếu như năm 2001, từ con tôm, các tỉnh trong vùng đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu 705 triệu USD thì năm 2004 đã lên đến 1.028 USD, chiếm trên 50% cơ cấu giá trị xuất khẩu của toàn vùng.

Xung quanh việc phát triển con tôm sú ở ĐBSCL, Tiến sĩ Trương Minh Phú, Khoa Thủy sản- Trường Đại học Cần Thơ, cho biết: Diện tích gia tăng đáng kể từ mô hình tôm - lúa luân canh, chủ yếu ở các tỉnh: Cà Mau, Bạc Liêu, Kiên Giang, Sóc Trăng, Trà Vinh và Bến Tre. Đây là mô hình canh tác đặc thù ở vùng nhiễm mặn theo mùa của ĐBSCL, mùa mưa trồng lúa và mùa khô nuôi tôm. Mô hình này được đánh giá có tính bền vững cả về kinh tế và môi trường. Tuy nhiên, do giá trị kinh tế của con tôm sú quá cao, gấp 100 lần lúa, người dân chuyển đổi, nâng cấp mô hình nuôi gây khó khăn cho việc canh tác lúa. Do khai thác nhiều năm song không được đầu tư đúng mức, công trình thủy lợi bị xuống cấp, bệnh tôm phát sinh làm ảnh hưởng đến môi trường sinh thái và hiệu quả của việc nuôi tôm sú.

Trong vài năm trở lại đây, nguy cơ thiệt hại tôm tại các vùng nuôi, nhất là vùng sản xuất theo mô hình tôm lúa ở ĐBSCL, đã được nhiều nhà khoa học ở các vụ, viện, trường trong cả nước cảnh báo. Nhiều cuộc hội nghị, hội thảo cấp vùng nhằm tìm giải pháp xây dựng một mô hình nuôi tôm bền vững về môi trường, hiệu quả về kinh tế được tổ chức. Song, thiệt hại của con tôm sú tại các tỉnh ĐBSCL cứ gia tăng. Nhiều tỉnh như Bạc Liêu, Sóc Trăng... diện tích thiệt hại đã lên trên 40% diện tích nuôi. Sóc Trăng là tỉnh có mô hình tôm lúa xuất hiện sớm nhất ĐBSCL (năm 1992), mà trong một lần làm việc tại đây vào năm 2003, Phó giáo sư - Tiến sĩ Hà Xuân Thông, Viện Kinh tế và Quy hoạch Thủy sản cho rằng: “Nếu còn dạy khôn cho Sóc Trăng về thực hành trồng lúa kết hợp nuôi tôm thì thật là vô duyên và ngớ ngẩn”. Thế nhưng ở địa phương này diện tích nuôi tôm bị thiệt hại cũng liên tục tăng. Năm 2000, diện tích tôm toàn Sóc Trăng thiệt hại chỉ khoảng 6%, nhưng đến năm 2003, diện tích thiệt hại đã chiếm 40% diện tích nuôi và tỷ lệ này ở năm 2004 đã lên đến 43%. Phần lớn diện tích thiệt hại lại rơi vào vùng canh tác theo mô hình tôm lúa trước đây.

GIẢI PHÁP ĐÃ CÓ...

Ông Nguyễn Việt Thắng, Thứ trưởng Bộ Thủy sản, khẳng định: “Quan điểm, chủ trương của Bộ Thủy sản xem đây là mô hình quan trọng cần phải được bảo vệ và tiếp tục phát triển. Bởi hiện nay, cây lúa đã có những phát triển cơ bản ở ĐBSCL. Tuy nhiên, làm gì để mô hình tôm - lúa phát triển bền vững, bảo vệ môi trường sinh thái ở ĐBSCL? Nhiều nhà khoa học, nhiều kỹ sư tại các trung tâm khuyến ngư ĐBSCL cho rằng cần có những giải pháp đồng bộ từ việc tuân thủ lịch mùa vụ, hệ thống thủy lợi phục vụ NTTS, khoa học - công nghệ, con giống...”. Còn Tiến sĩ Nguyễn Văn Thành, cho rằng: Các tỉnh ĐBSCL cần có rà soát, điều chỉnh quy hoạch nuôi tôm, phải dựa vào địa hình, thổ nhưỡng, diễn biến độ mặn mà có những quy hoạch cụ thể. Quy hoạch phải công khai để người dân biết, đồng tình và tích cực tham gia”.

Khắc phục tình trạng hạn chế của hệ thống thủy lợi, theo Tiến sĩ Nguyễn Văn Thành, cần qui hoạch và xây dựng hệ thống kinh đưa nước mặn bổ sung vào các khu vực Mỹ Xuyên, Vĩnh Châu (Sóc Trăng), nam Quốc lộ 1A của Bạc Liêu. Tiến hành xây dựng các đập ngăn mặn cho các khu vực quá sâu trong đất liền đã được qui hoạch để trồng lúa ở các tỉnh Sóc Trăng, Cần Thơ trên phần phía đông của kinh Quản Lộ - Giá Rai, Quản lộ - Phụng Hiệp. Ở vùng bán đảo Cà Mau nên phân thành các tiểu vùng để khép kín hệ thống thủy lợi phục vụ nuôi tôm mỗi cụm. Việc điều tiết nước được thực hiện thông qua hệ thống cống ngăn cho mỗi cụm nuôi tôm. Về phía Cà Mau cần mở rộng và nạo vét sông Vàm Đầm để lấy nước cho các vùng nuôi ở các huyện Đầm Dơi, Cái Nước, Thới Bình, Giá Rai, Vĩnh Thuận, TP Cà Mau. Việc tiêu nước từ vùng nuôi được thực hiện qua sông Gành Hào. Vùng nuôi phía Bạc Liêu nước cấp lấy từ hệ thống kinh hiện có (nên mở rộng) như Tắc Vân, Hộ Phòng, tiêu nước ra sông Gành Hào...

Thực tế các năm qua, nguyên nhân chính dẫn đến thiệt hại tôm là do người dân phá vỡ quy hoạch, không tuân thủ lịch thời vụ và chất lượng con giống trên thị trường không được đảm bảo. Giải quyết vấn đề này, ông Nguyễn Việt Thắng, Thứ trưởng Bộ Thủy sản cho rằng: ĐBSCL cần chọn những vùng, những trọng điểm nhỏ, thích hợp và phải xác định đủ các điều kiện về kỹ thuật, kinh tế để phát triển. Phải xây dựng bước đi của mô hình tôm- lúa cụ thể, đi từng bước chậm, nhưng chắc, đi từ thấp đến cao. Có như vậy mới vận động, tuyên truyền và hướng dẫn người dân làm theo. Các tỉnh ĐBSCL cần kiên quyết trong xử lý tình trạng cung cấp con giống không chất lượng, tiến tới tổ chức mã số hóa các vùng nuôi và công nhận xuất xứ sản phẩm thủy sản nuôi. Có biện pháp kiên quyết với những cá nhân cố tình phát tán bệnh và thải chất thải cũng như hóa chất độc hại cho thủy sản ra môi trường.

Có thể nói, con tôm - cây lúa, cây lúa - con tôm đã tốn khá nhiều công sức của các nhà khoa học, hàng trăm tỉ đồng của Nhà nước đã bỏ ra để xây dựng hệ thống thủy lợi phục vụ vùng nuôi. Nhiều khuyến cáo, giải pháp về quản lý mùa vụ và môi trường nuôi, ứng dụng công nghệ sinh học, chế phẩm sinh học trong quá trình nuôi; giải pháp nâng cấp công trình... đã được các nhà khoa học đưa ra. Vấn đề quan trọng còn lại chính là sự vận động, tuyên truyền của hệ thống chính quyền, đoàn thể đối với nhân dân trong việc thực hiện quy hoạch, tuân thủ lịch thời vụ nhằm hạn chế rủi ro, bảo vệ môi trường. Và dĩ nhiên, nói như Thứ trưởng Nguyễn Việt Thắng: “Phải phát triển mô hình tôm - lúa theo hướng cân bằng giữa con tôm và cây lúa. Có như vậy con tôm ĐBSCL mới có thể sạch bệnh, hàng trăm nghìn ha nuôi tôm ở ĐBSCL mới phát triển bền vững”.

THANH LONG