Free Web Hosting by Netfirms
Web Hosting by Netfirms | Free Domain Names by Netfirms

Đột phá mới của nghề nuôi thủy sản – Tôm sạch

BCT, 10/2/2005

 

Bền vững- điều mà nông dân và doanh nghiệp nuôi tôm ở ĐBSCL đã nhận ra sau một thời gian dài trải nghiệm. “Sức sống” bền lâu của con tôm đem về nhiều ngoại tệ chỉ có được khi mọi người biết khai thác tiềm năng bằng cả tấm lòng trân trọng, mến yêu. Từ những nghĩ suy, trăn trở này, nghề nuôi trồng thủy sản ĐBSCL đã xuất hiện những mô hình nuôi tôm sạch đầy triển vọng...

KỶ LỤC MỚI “LÀNG TÔM”

Khi nghe kỷ lục “làng tôm” năm 2004 với năng suất đạt 20 tấn/ha, nhiều “đại gia”, lão nông vẫn còn nghi ngờ. Bởi với điều kiện tự nhiên thuận lợi, các kỹ sư có tay nghề, cùng lắm năng suất nuôi tôm chỉ đạt khoảng 10 tấn/ha. Đó là chưa tính đến các yếu tố bất lợi do dịch bệnh và gây nên tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Vậy mà Công ty Cổ phần Nuôi trồng và Chế biến Thủy sản Mỏ Ó (SEACO) lại làm được. Năm 2003, công ty đã lập nên kỷ lục về nuôi tôm công nghiệp với năng suất bình quân đạt trên 14 tấn/ha và tự phá kỷ lục của mình bằng năng suất cá biệt lên đến 20 tấn/ha vào năm tiếp theo.

Vụ tôm 2004 vừa qua, tôi có dịp cùng với một số nhà khoa học của các viện, trường và nông dân các tỉnh ĐBSCL về cánh đồng Mỏ Ó tham quan nhân ngày thu hoạch tôm của SEACO. Hôm ấy, chứng kiến tận mắt những lưới tôm căng phồng liên tục được đưa lên bờ ao, các nhà khoa học, nông dân không giấu được vẻ ngạc nhiên và thích thú. Mẻ nào cũng vậy, tôm đạt kích cỡ từ 30 - 34 con/kg, rất đều nhau. Thế là nguyên cố vấn công ty SEACO, ông Lưu Thống Nhứt và cả giám đốc Lưu Quốc Việt bị mọi người “bao vây” để hỏi chuyện nuôi tôm sú. “Đó chính là nhờ quy trình nuôi tôm sạch cao sản bằng công nghệ vi sinh VITEDI. Trong đó, ngoài những yếu tố cơ bản khác, chế phẩm vi sinh đa enzyme (EB - 02) và thức ăn vi lượng micro Biofood (MBF - 02) là hai yếu tố quan trọng để đạt năng suất và sản lượng cao như vậy”- giám đốc Lưu Quốc Việt phấn chấn giải thích. Rồi ông kể: Khi mới đến đồng đất này năm 2001, SEACO gặp rất nhiều khó khăn về vốn đầu tư, kỹ thuật, cũng như trở ngại do phải sử dụng rất nhiều hóa chất xử lý do khu vực đồng năn nhiễm phèn rất nặng, khi thu hoạch năng suất chỉ đạt 1,8 - 2,2 tấn mỗi ao 4.500 m2 mặt nước. Tốn nhiều công chăm sóc, nhưng tỷ lệ hao hụt vẫn còn khá cao (khoảng 35%), đáy ao dơ, ô nhiễm tốn kém xử lý; nguy cơ mắc bệnh của tôm lớn, nhất là đốm trắng làm tôm chậm lớn, phân đàn, phát triển không đồng đều, giảm giá trị kinh tế... Song một điều quan ngại nhất là vấn đề dư lượng kháng sinh, ảnh hưởng đến chất lượng, khả năng tiêu thụ sản phẩm do đòi hỏi khắt khe của thị trường nhập khẩu. Không ít người cho rằng SEACO sẽ “chết” ngay tại cái rốn phèn cánh đồng năn Long Phú.

Trên lộ trình tìm phương pháp nuôi mới, SEACO đã liên hệ với các viện nghiên cứu thủy sản, các trường đại học và cả các nhà khoa học trong và ngoài nước. Ông Lưu Thống Nhứt, nhớ lại: “Khi biết chúng tôi đang tìm kiếm một qui trình mới cho nghề nuôi tôm sú, các nhà khoa học của Công ty VITEDI Hà Nội hứa sẽ cung cấp cho công nghệ nuôi tôm mới, đảm bảo đạt năng suất cao, chất lượng tôm sạch và rất hiệu quả”. Ngay trong vụ nuôi thứ 2 năm 2002, SEACO bắt đầu thử nghiệm công nghệ vi sinh VITEDI một cách thận trọng. Với 48 ao nuôi tôm sú, công ty thử nghiệm một số phương pháp, quy trình nuôi công nghiệp có cải tiến của Hoa Kỳ trên 3 ao, nuôi bằng công nghệ vi sinh 5 ao và diện tích còn lại nuôi theo phương pháp cũ. Giám đốc Lưu Quốc Việt tâm sự: “Phải nói đây là vụ sản xuất khó khăn nhất đối với công ty và các trang trại nuôi tôm vì bệnh đốm trắng bùng phát thành dịch. Hàng loạt các ao tôm bị chết khi mới được 1 - 2 tháng tuổi. Toàn bộ diện tích nuôi công nghiệp của công ty theo phương pháp cũ và có cải tiến cũng bị thiệt hại nặng nề nhưng 5 ao nuôi theo công nghệ vi sinh vẫn phát triển tốt và khi thu hoạch cho kết quả khá bất ngờ với năng suất từ 3,8 - 4,2 tấn/ao. Kết quả này đã “cứu” công ty có khoản bù lỗ cho các diện tích bị thiệt hại”.

Vụ nuôi đầu năm 2003 (được sự hướng dẫn của các nhà khoa học thuộc VITEDI Hà Nội), SEACO làm một bước ngoặt lớn. Công ty đầu tư mở rộng thêm 53 ao ở khu 2 (ấp Nam Chánh, xã Lịch Hội Thượng, Long Phú) nâng tổng số ao nuôi tôm lên 105 ao và mạnh dạn sử dụng công nghệ sinh học 100% diện tích nuôi. Sau những ngày tháng thấp thỏm đợi chờ, năng suất các ao đạt từ 8 - 16 tấn/ha, lập nên kỷ lục mới không những ở “làng tôm” Sóc Trăng mà của cả nước phải ngưỡng mộ.

Đầu năm 2004, Công ty Sản xuất và Dịch vụ nuôi trồng thủy sản kỹ thuật cao Sóc Trăng (VITEDI Sóc Trăng) ra đời và kéo theo sự ra đời của một quy trình nuôi tôm sạch cao sản bằng công nghệ vi sinh VITEDI trên cơ sở chọn giống, thức ăn, phương pháp nuôi, lịch trình sử dụng các chế phẩm đa enzyme khá hoàn chỉnh. Ông Phạm Hữu Lai, Phó Giám đốc Sở Thủy sản Sóc Trăng, bày tỏ: “Tỉnh hoàn toàn ủng hộ VITEDI vì nguyên liệu đưa vào chế biến chế phẩm này là loại rẻ tiền, tại chỗ nên khả năng hạ giá thành khả thi khi sản phẩm đến tay người sử dụng. Xu hướng thế giới đang tiến đến việc nuôi tôm sạch và có kiểm soát. Nuôi tôm phải tiến lên bán thâm canh, thâm canh, nuôi hữu cơ, ít sử dụng hóa chất để sản phẩm dễ cạnh tranh trong thị trường thế giới”.

Vụ tôm năm 2004, công nghệ VITEDI càng minh chứng ưu thế khi diện tích nuôi tôm của Sóc Trăng bị thiệt hại trên 18.200 ha do điều kiện thời tiết bất lợi và dịch bệnh. Trong khi đó, tại SEACO, 105 ao nuôi đạt năng suất trung bình trên dưới 14,5 tấn/ha năng suất cá biệt đạt khoảng 20 tấn/ha. Một kỷ lục mới trong “làng tôm” lại được lập! Kết thúc vụ nuôi năm 2004 này, ông Lưu Thống Nhứt, Giám đốc VITEDI Sóc Trăng, đúc kết: “Công nghệ VITEDI là ứng dụng hai chế phẩm sinh học EB-02 và MBF-02 dù chỉ mới cung ứng cho thị trường theo nhu cầu đặt hàng của các tỉnh, công ty cũng đã xuất được trên 300 tấn sản phẩm sinh học EB - 02 và trên 100 tấn sản phẩm MBF - 02. Đây quả là bước khởi động đầy hứa hẹn. Tôi tin việc ứng dụng những tiến bộ của khoa học vào sản xuất để làm giàu cho người dân”.

Đầu năm mới 2005, một nhà ủ rác của VITEDI Sóc Trăng sẽ được hình thành tại khu vực bãi rác phường 8, thị xã Sóc Trăng, để cung ứng nguồn nguyên liệu chính sản xuất chế phẩm đa enzyme hứa hẹn, một niềm vui mới cho người nuôi tôm khi bước vào năm mới. Rồi đây những kỷ lục trong “làng tôm” ĐBSCL có vượt mức 20 tấn/ha hay không, cơ hội thuộc về tất cả nông dân nuôi tôm khi đưa khoa học công nghệ vào đồng đất quê hương.

Song, việc ứng dụng nuôi tôm sạch theo mô hình công nghiệp đòi hỏi vốn đầu tư lớn, nên nằm ngoài tầm với của những nông hộ khó khăn. Tuy nhiên, vẫn có cách nuôi tôm sạch vừa đầu tư rẻ tiền vừa mang lại hiệu quả tích cực.

“VƯƠNG QUỐC TÔM” - KẾ SÁCH LÂU BỀN

Tôi đến “vương quốc tôm”- Cà Mau vào những ngày giáp Tết. Vùng đất cuối cùng Tổ quốc, những rặng rừng mắm, đước đu đưa trong gió xuân về. Ở “vương quốc tôm” đang dần định hình một tương lai bền vững bằng con tôm sinh thái. Mô hình tôm - rừng kết hợp, những con tôm len trong những cánh rừng đước đang được nhiều nước trên thế giới biết đến. Các thị trường xuất khẩu khó tính như: EU, Nhật, Úc đánh giá cao con tôm sinh thái tại Cà Mau đã tạo một động lực cho người nông dân đánh thức một tiềm năng bấy lâu nay bị lãng quên.

Lâm ngư trường (LNT) 184 đang cho nước vào rừng để thả vụ tôm mới, nông dân Phạm Thành Bính hớn hở cho biết: “Con nước rồi tôi cũng kiếm được hơn 10 triệu đồng. Bây giờ sên đất thả tiếp để qua khoảng tháng hai năm tới xổ lần đến tháng sáu là vừa”. Là một trong số người đi tiên phong nuôi tôm sinh thái, ông Bính hiểu giá trị của con tôm sạch. Hai mươi năm trước, ông đến vùng đất này lập nghiệp và được giao 20 ha rừng. Khi phong trào nuôi tôm sú sôi động ở Cà Mau, ông cũng lao vào. Ông nhớ lại: “Lúc đó nuôi tôm thấy ham. Rừng còn nhiều nên tôm trúng lắm. Vậy là bà con mình phá rừng để cho diện tích nuôi lớn hơn. Nhưng được vài ba năm môi trường ô nhiễm, con tôm chết gần hết. Bây giờ chủ trương trồng lại rừng và kết hợp thành mô hình tôm - rừng là rất hợp lý. Vì nó cải tạo được môi trường, con tôm lớn nhanh và bớt chết”.

Khi Cà Mau mới khởi nghiệp nuôi tôm, hầu hết diện tích đều xuất phát từ nuôi dạng sinh thái. Nhưng rồi theo thời gian và thúc bách của cuộc sống, tính sinh thái mất dần. Những vạt rừng đước bạt ngàn bị đốn hạ để nuôi con tôm mật độ dày với ham muốn năng suất cao hơn. Tuy nhiên, hậu quả do chính bàn tay con người tàn phá môi trường thì rất lớn. Dịch bệnh tôm ngày một trầm trọng; việc nuôi tôm thất bát đã giúp nhiều người nhận ra chính mình đã đập bể “nồi cơm” của mình. Bây giờ, triển khai chủ trương nuôi tôm - rừng kết hợp, diện tích rừng đang được khôi phục dần, môi trường được cải thiện, con tôm bắt đầu có sức sống mới. Ông Ngô Dũng Liêm, Giám đốc LNT so sánh: “Hiện nay tổng diện tích nuôi tôm sinh thái của LNT hơn 3.000 ha với 700 hộ nông dân tham gia. Mô hình này năng suất không cao nhưng tính bền vững rất cao. Cụ thể là từ năm 2000 đến nay tôm nuôi tại đây không xay ra tình trạng bị chết. Hiện nay năng suất ước tính từ 300-400kg/ha, nhưng giá bán lại cao hơn tôm nuôi bình thường tới 20%”.

Theo giới chuyên môn, hiện nay khoảng 60% sản lượng tôm nuôi ở Cà Mau là tôm sinh thái, nhưng lại chưa được công nhận. Để được công nhận tôm sinh thái như tại LNT 184, đòi hỏi phải có những nghiên cứu khoa học và chứng nhận của tổ chức Naturland - CHLB Đức, hoặc chứng nhận tôm sinh thái theo tiêu chuẩn Nhật Bản. Năm 2000 Cà Mau cũng đã chú ý đến việc phát triển các mô hình nuôi tôm sinh thái khi phong trào chuyển dịch nuôi tôm phát triển ồ ạt. Bởi chính trong năm ấy, các khách hàng bắt đầu tìm hiểu về những con tôm được nuôi trong môi trường tự nhiên tại Cà Mau. Đến tháng 6-2002, con tôm nuôi tại LNT 184 mới chính thức được công nhận sản phẩm tôm sinh thái. Với thương hiệu “tôm sinh thái”, con tôm nuôi tại LNT 184 đã tạo tiếng vang lớn và khẳng định tiềm năng phát triển. Ông Phan Xuân Hoàng, một chuyên gia nghiên cứu phát triển nguồn lợi thủy sản tại TPHCM, đã nhận định: “Hiện nay tiềm năng nuôi tôm sinh thái tại Cà Mau rất lớn. Đây là một mô hình mang tính bền vững rất cao. Tuy nhiên cần phải có những nghiên cứu khoa học để có kế hoạch phát triển và nhân rộng mô hình”.

Hiện nay hầu hết nguồn tôm sinh thái đang được Công ty CAMIMEX bao tiêu và chế biến xuất khẩu trực tiếp sang thị trường Thụy Sĩ, EU. Chỉ riêng trong năm nay, Cà Mau dự kiến sẽ xuất khẩu khoảng 250 tấn tôm sinh thái và tổng lợi nhuận mang lại cao hơn nuôi kiểu thâm canh, công nghiệp gần 2,5 tỉ đồng. Thử tính: lấy mức giá như hiện nay, một năm Cà Mau chỉ xuất khẩu khoảng 500 tấn tôm sinh thái thì lợi nhuận chênh lệch so với nuôi tôm bình thường khoảng 5 tỉ đồng/năm. Cà Mau với diện tích nuôi tôm hàng năm trên 226.000 ha, trong đó phần diện tích chuyên tôm dạng sinh thái có thể phát triển hơn 166.000ha, là một tiềm năng rất lớn.

Theo kế hoạch, đến cuối năm nay Cà Mau sẽ xúc tiến các công việc cần làm để diện tích nuôi tôm - rừng kết hợp tại các LNT Kiến Vàng, Đầm Dơi, Sào Lưới được chứng nhận tôm sinh thái. Nếu kế hoạch này hoàn thành, Cà Mau có thể nâng diện tích nuôi tôm sinh thái lên 15-20.000 ha.

Theo quy hoạch phát triển thủy sản Cà Mau, trong năm tới diện tích nuôi tôm dạng sinh thái phải ổn định khoảng 144.000 ha và sản lượng khai thác chế biến xuất khẩu hàng năm trên 50.000 tấn. Ông Phạm Văn Đức, Giám đốc Sở Thủy sản Cà Mau, cho tôi biết: “Hiện nay, đang có rất nhiều doanh nghiệp xin đăng ký đầu tư nuôi và bao tiêu sản phẩm tôm sinh thái cho người dân...”.

Tôi nhớ mãi câu nói của nông dân Phạm Thành Bính: “Con tôm giúp mình làm giàu, nên phải biết tính thế nào để gắn bó với nó lâu dài”. Trước những lợi thế thiên nhiên ưu đãi, con tôm sinh thái Cà Mau hứa hẹn một hiệu quả kinh tế bền vững và môi trường sống trong lành là điều không ai có thể phủ nhận được...

THANH LONG - BÌNH NGUYÊN