|
|
|
Đối phó thành công vụ kiện tôm
VNECONOMY, 31/1/2005
Phỏng vấn ông Nguyễn Văn Kịch, Chủ tịch Ủy ban tôm VASEP
“…Trải qua một năm theo đuổi đối phó với vụ kiện tôm đầy gian nan và thử thách, có thể nói đến nay, các doanh nghiệp tôm Việt Nam đã đạt được những kết quả bước đầu tương đối thành công”.
Ngày 26/1/2005 Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC) đã công bố sửa đổi quyết định cuối cùng trong vụ điều tra "chống bán phá giá" đối với tôm đông lạnh NK từ 6 nước bị kiện. Ủy ban tôm (VSC) của Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) đánh giá thế nào về sự kiện này? Với mức thuế này, tôm Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ còn có được lợi thế cạnh tranh hay không, thưa ông?
Theo thông báo sửa đổi quyết định cuối cùng (QĐCC) của DOC, mức thuế áp dụng đối với sản phẩm tôm của các doanh nghiệp là "bị đơn bắt buộc" và "bị đơn tự nguyện" của Việt Nam tăng từ 0,17 % đến 0,25% so với mức đã công bố ngày 30/11/2004. DOC đã tính lại biên độ phá giá của các doanh nghiệp Việt Nam (nhìn chung là giảm).
Thông báo cũng đã công nhận thêm 2 công ty Ngọc Sinh và Phương Nam được hưởng mức thuế riêng biệt như các "bị đơn tự nguyện" khác, là 4,57%. Việt Nam có 31 doanh nghiệp nằm trong danh sách này. Riêng 3 "bị đơn tự nguyện" khác là Trúc An, Hải Thuận và Nha Trang Fisheries Co. vẫn bị buộc phải chịu mức thuế cao 25,76% giống như Công ty Kim Anh và các doanh nghiệp khác. DOC cho rằng 3 doanh nghiệp này không chứng minh được rằng hoạt động của họ không chịu sự kiểm soát của Chính phủ!
Trải qua một năm theo đuổi đối phó với vụ kiện tôm đầy gian nan và thử thách, có thể nói đến nay, các doanh nghiệp tôm Việt Nam đã đạt được những kết quả bước đầu tương đối thành công.
Các nước cùng là bị đơn trong vụ kiện này được áp đặt mức thuế khác nhau. Với Trung Quốc, hơn 90% các nhà chế biến xuất khẩu phải chịu mức thuế từ 27-113%, đa số phải chịu mức 53,08%. Thái Lan phải chịu mức thuế chung là 5,95%, ấn Độ là 10,17 %, Brazil là 7,05%. Riêng Ecuador mức thuế suất bình quân 3,58%.
Với Việt Nam, nhiều công ty được hưởng mức thuế suất dưới 5%, có thể tiếp tục xuất khẩu sang Hoa Kỳ. Như vậy các doanh nghiệp tôm Việt Nam về cơ bản đã đạt được một kết quả khá tốt, tạo nên lợi thế cạnh tranh rất lớn cho sản phẩm tôm Việt Nam khi xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ.
Vụ kiện tôm khá phức tạp, VSC có thể phân tích những nguyên nhân đưa đến kết quả tương đối khả quan như hiện nay?
VSC xin tóm lược diễn biến và quá trình theo đuổi vụ kiện như sau.
Ngày 31/12/2003, Liên minh tôm miền nam Hoa Kỳ gồm 8 tiểu bang nộp đơn kiện 6 quốc gia xuất khẩu tôm lớn nhất đã bán phá giá và gây thiệt hại cho nền công nghiệp đánh bắt tôm của họ. Theo Luật chống bán phá giá thì đơn kiện sẽ được DOC xem xét trong vòng 20 ngày để đi đến quyết định có thực hiện điều tra hay không. Đồng thời, Uỷ ban thương mại quốc tế Hoa Kỳ (ITC) là một ủy ban độc lập thuộc Quốc hội cũng xem xét liệu rằng việc xuất khẩu tôm của các nước bị kiện có gây thiệt hại hay đe dọa gây thiệt hại cho ngành công nghiệp đánh bắt tôm của Hoa Kỳ hay không.
Ngày 20/1/2004 DOC ra quyết định bắt đầu điều tra vụ kiện. Theo đó, hầu như toàn bộ các dạng tôm xuất khẩu từ Việt Nam đều nằm trong phạm vi điều tra, ngoại trừ tôm khô, tôm tẩm bột.
Ngày 21/1, ITC tổ chức điều trần, và đến 17/2/2004 ra quyết định sơ bộ xác định tôm nhập khẩu đe dọa gây thiệt hại! Vụ kiện bắt đầu vào giai đoạn điều tra!
Ngay từ đầu, VASEP đã cung cấp cho ITC khá nhiều các thông tin và chứng cứ chứng minh rằng tôm nhập khẩu từ Việt Nam không gây ảnh hưởng đến ngành đánh bắt tôm của Mỹ. Dựa trên số liệu xuất khẩu của các doanh nghiệp tôm Việt Nam trong giai đoạn điều tra, ngày 23/2/2004 DOC thông báo chọn 4 công ty Việt Nam là Minh Phú, Kim Anh, Camiex, Sea Minh Hải là bị đơn bắt buộc và bắt đầu tiến hành điều tra thông qua các bản câu hỏi phần A,C, D và E. Các doanh nghiệp Việt Nam đã nộp các bản trả lời chi tiết, đúng thời gian.
Ngày 02/7/2004 DOC đã ra các quyết định sơ bộ với các mức thuế từ 12,11-93,13%, gây không ít khó khăn cho các doanh nghiệp. Việt Nam có 38 công ty tham gia vụ kiện thì DOC chỉ công nhận 21 đơn vị được hưởng thuế suất riêng biệt.
Từ 27/8 đến 10/9, DOC đã tiến hành thẩm tra tại chỗ các công ty Cafatex, Sea Minh Hải, Kim Anh, Camiex và Minh Phú. Ngày 08/9 các công ty nộp các thông tin về giá trị thay thế. Với những thực tế thẩm tra tại các công ty và các thông tin về giá trị thay thế hết sức chi tiết và phù hợp, ngày 29/11/2004 DOC đã ra quyết định cuối cùng và công bố trên công báo Hoa Kỳ ngày 08/12/2004, có sự thay đổi đáng kể cho Việt Nam về mức thuế cũng như số lượng các doanh nghiệp được hưởng mức thuế riêng biệt. Và bây giờ là thông báo sửa đổi quyết định cuối cùng.
Thành công của các doanh nghiệp tôm Việt Nam là kết quả của sự đoàn kết, hoạt động có tổ chức và chiến lược đúng đắn của VASEP. Bộ Thủy sản, Bộ Thương mại, tổ chuyên trách vụ kiện đã có sự hỗ trợ, chỉ đạo kịp thời đối với Ủy ban tôm VASEP.
Các doanh nghiệp tham gia vụ kiện, đặc biệt là các doanh nghiệp bị đơn bắt buộc và tự nguyện tham gia cuộc thẩm tra trực tiếp của DOC tại Việt Nam đã làm việc hết sức hiệu quả. Công ty luật WEG & IDViệt Nam được chọn làm đại diện cho các doanh nghiệp tôm Việt Nam đối phó với vụ kiện đã hoạt động hết sức hiệu quả! Hội nghề cá, tổ chức Action Aid Vietnam, đông đảo ngư dân nuôi tôm cũng như các cá nhân, tổ chức trong, ngoài nước luôn hỗ trợ và lên tiếng ủng hộ và chống lại vụ kiện.
Hiện tại, Việt Nam vẫn còn 4 doanh nghiệp không được DOC cho hưởng mức thuế riêng biệt. Về lâu dài, VSC còn phải làm gì để tiếp tục bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp tôm Việt Nam trên trường quốc tế, thưa ông?
VSEP đã nhiều lần khẳng định năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam được xây dựng dựa trên những lợi thế về thiên nhiên, về chi phí nhân công cũng như dựa trên sự nỗ lực của chính doanh nghiệp trong sản xuất và kinh doanh xuất khẩu. Các doanh nghiệp Việt Nam không bán phá giá sản phẩm tôm sang thị trường Hoa Kỳ cũng như bất cứ thị trường nào khác. Do vậy, việc áp đặt mức thuế chống bán phá giá nào cũng đều là bất công.
VASEP ủng hộ lập trường của Hiệp hội phân phối thủy sản Hoa Kỳ (ASDA) kêu gọi ngành khai thác tôm biển Hoa Kỳ hợp tác để tìm các giải pháp hữu hiệu và lâu dài nhằm bảo đảm quyền lợi hợp pháp của các bên theo tinh thần tự do thương mại và cạnh tranh bình đẳng.
Hưng Văn