|
|
|
Bộ trưởng Thủy sản: Có thể thâm nhập thị trường khó tính
TTXVN, 12/01/2005
Năm 2004 là một năm có nhiều khó khăn đối với ngành thủy sản nhưng với sự nỗ lực trong sản xuất kinh doanh, tìm kiếm thị trường của ngư, nông dân, của doanh nghiệp, cùng với sự tiếp tục đổi mới trong công tác quản lý nhà nước, nghiên cứu ứng dụng khoa học nên sản xuất thủy sản vẫn tiếp tục tăng. Tổng sản lượng thủy sản đạt khoảng 3 triệu tấn, tăng 7,7% so với năm 2003 và kim ngạch xuất khẩu đạt gần 2,4 tỷ USD, tăng 8,9%.
Phóng viên TTXVN có cuộc trao đổi với Bộ trưởng Bộ thủy sản Tạ Quang Ngọc.
Xin Bộ trưởng cho biết những khó khăn và thuận lợi trong quá trình thực hiện nhiệm vụ năm 2004?
Năm 2004 là một năm rất quan trọng đối với ngành thủy sản, đánh dấu sự nỗ lực nhằm hoàn thành kế hoạch 5 năm (2001-2005) theo nghị quyết của đại hội Đảng lần thứ 9. Chính vì, vậy ngay từ đầu năm ngành đã triển khai nhiều giải pháp, một mặt để thực hiện các chỉ tiêu đề ra, mặt khác để tăng chất lượng và dịch vụ.
Thuận lợi khách quan là trên đà tăng trưởng từ những năm 2001 cho đến nay, một số chính sách của Đảng và Nhà nước ngày càng đi vào cuộc sống, tạo những yếu tố tích cực và đổi mới trong ngành, từ đó tiếp tục phát huy được nội lực trong ngư dân trong doanh nghiệp thủy sản.
Một thuận lợi nữa là sau một số năm đổi mới công nghệ và làm tốt công việc về thị trường đã tạo ra một đội ngũ doanh dân rất là quý, cộng với công nghệ tiên tiến. Mặt khác, các chính sách của Đảng và Nhà nước liên quan đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp, chuyển đổi những diện tích trong lúa hiệu quả kém sang nuôi thủy sản đã góp phần tăng mạnh sản lượng thủy sản nuôi trồng, tăng 15% so với năm 2003. Tuy vậy, cũng có nhiều bất cập xảy ra trong quá trình thực hiện do phần nào có hiện tượng phát triển nuôi thủy sản tự phát, thiếu quy hoạch.
Tuy nhiên, trong năm 2004 ngành thủy sản gặp rất nhiều khó khăn, vừa kết thúc vụ kiện bán phá giá cá tra, basa được 5 tháng thì lại bắt đầu vụ kiện bán phá giá tôm vào thị trường Mỹ cùng với 5 nước khác. Vụ kiện tôm kéo dài suốt năm 2004 đã làm giảm tới 30% xuất khẩu thủy sản vào thị trường Mỹ. Ngoài ra, vấn đề về hàng rào phi thuế quan vẫn là thách thức không nhỏ với ngành, tuy năm 2004 không gay gắt bằng năm 2002 và đầu năm 2003, nhưng cũng tạo ra những sự không ổn định trong sản xuất kinh doanh thủy sản cho xuất khẩu.
Đầu năm 2004, hạn hán làm chậm mùa vụ, khan hiếm nguyên liệu cũng gây khó khăn cho việc cung cấp nguyên liệu. Chế biến xuất khẩu càng tiên tiến, thị trường càng đòi hỏi cao, trong khi thị trường mua bán nguyên liệu vẫn là thị trường nậu, vựa hoặc quy mô nhỏ thì sẽ không đáp ứng được về lượng, đặc biệt về chất lượng.
Vấn đề liên kết 4 nhà gồm nhà: nhà nông-nhà khoa học-nhà doanh nghiệp- nhà nước vẫn còn mang tính chất kêu gọi, tự nguyện. Để việc liên kết này mang lại hiệu quả cao thì phải đẩy mạnh vai trò của nhà nước hơn nữa. Tất nhiên, Nhà nước ở đây không phải chỉ là Bộ thủy sản, chính quyền địa phương.
Về khai thác thủy sản, ngư dân tiếp tục chuyển đổi cơ cấu nghề, lựa chọn và cải tiến ngư cụ, đưa công nghệ mới vào khai thác nâng cao hiệu quả đánh bắt hải sản, tiếp tục chuyển khai thác từ hướng theo sản lượng sang hướng theo giá trị, cơ cấu nghề hướng theo sản phẩm có giá trị xuất khẩu. Theo số liệu báo cáo, toàn ngành hiện có 85.430 chiếc tàu tham gia hoạt động khai thác hải sản, trong đó có trên 6.560 tàu đủ khả năng khai thác hải sản xa bờ. Xu hướng phát triển khai thác hải sản xa bờ tiếp tục được khẳng định. Sản lượng khai thác năm qua đạt 1.923.000 tấn, tăng khoảng 3,6% so với năm 2003.
Năm 2004, thiên tai , cứu hộ ... cũng đang là những vấn đề còn nhiều bất cập khiến ngư dân chưa yên tâm hoạt động trên biển . Số lượng cơn bão năm nay ít đi nhưng tai nạn không ít đi.
Bộ trưởng có thể cho biết về cơ cấu thị trường xuất khẩu thủy sản trong thời gian qua và định hướng trong thời gian tới?
Đến nay, sản phẩm thủy sản Việt Nam đã có mặt tại 80 nước và vùng lãnh thổ. Năm qua, thị trường Nhật Bản đứng đầu về nhập khẩu hàng thủy sản của Việt Nam với tỷ trọng chiếm đến 31,4% giá trị kim ngạch xuất khẩu toàn ngành, tiếp đến là Mỹ với trên 24% và EU là 9,9%.
Thị trường tuy có nhiều khó khăn, nhưng cũng luôn rộng mở. Với những năng lực của ngành chế biến thủy sản, Việt Nam có thể chuyển đổi, thâm nhập vào những thị trường khó tính. Các doanh nghiệp đã chủ động tiếp cận các thị trường thông qua việc tham gia hội chợ quốc tế ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ, Trung Quốc, năng lực tiếp thị của các doanh nghiệp Việt Nam đã được nâng cao, cộng với uy tín hàng thủy sản Việt Nam ngày càng tăng trên thị trường thế giới.
Về cơ cấu sản phẩm thủy sản xuất khẩu, tôm vẫn là nguyên liệu chủ yếu chiếm trên 50% giá trị sản phẩm thủy sản xuất khẩu, tiếp đến là cá tra, basa. Hiện nay, Việt Nam có 153 doanh nghiệp chế biến thủy sản trong danh sách 1 xuất khẩu vào thị trường EU; 229 doanh nghiệp đủ tiêu chuẩn xuất khẩu vào Hàn Quốc, 298 doanh nghiệp đủ điều kiện xuất khẩu vào Trung Quốc.
Ngành thủy sản đã thực hiện việc cổ phần hoá như thế nào, thưa Bộ trưởng?
Ngành thủy sản đang thực hiện cổ phần hóa theo kế hoạch đã được Chính phủ phê duyệt. Cổ phần hoá nói riêng, sắp xếp đổi mới doanh nghiệp nhà nước nói chung trong ngành thủy sản cũng gặp không ít khó khăn. Việc tổ chức, sắp xếp lại 3 Tổng công ty gồm (Tổng công ty Hải sản Biển Đông, Tổng công ty thủy sản Hạ Long và Tổng công ty thủy sản Việt Nam) với tiến độ chậm. Tuy nhiên, Ban Chỉ đạo sắp xếp đổi mới doanh nghiệp nhà nước Bộ đang cố gắng rà soát mọi công việc để có chuyển biến rõ rệt trong việc thực hiện công tác này.
Để tiếp tục phát triển kinh tế thủy sản, năm 2005, Bộ sẽ làm gì trong thời gian tới?
Năm 2005, Bộ thủy sản đề ra mục tiêu đạt kim ngạch xuất khẩu thủy sản là 2,6 tỷ USD. Để đạt được, ngành sẽ tiếp tục chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng ưu tiên xuất khẩu và nâng cao chất lượng hiệu quả bền vững; tiếp tục sắp xếp đổi mới, cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước, tổ chức lại các Tổng công ty; tăng cường nghiên cứu khoa học, công nghệ, đưa các ứng dụng công nghệ mới vào nuôi trồng, khai thác, chế biến thủy sản; đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại; tập trung xây dựng thương hiệu sản phẩm thủy sản gắn với các tiêu chuẩn chất lượng đối với từng sản phẩm thủy sản chủ lực.
Xin cảm ơn Bộ trưởng./.