Free Web Hosting by Netfirms
Web Hosting by Netfirms | Free Domain Names by Netfirms

Ứng dụng khoa học công nghệ vào nuôi trồng thuỷ sản

VNECONOMY, 6/01/2005

 

Phỏng vấn ông Nguyễn Việt Thắng, Thứ trưởng Bộ Thuỷ sản

Trong 5 năm trở lại đây, nuôi trồng thuỷ sản (NTTS) phát triển nhanh ở nhiều vùng trên cả nước. Chương trình này đã được Bộ Thủy sản đầu tư hướng dẫn và điều hành như thế nào, thưa ông?

Nuôi trồng thuỷ sản đang có bước phát triển nhanh, đóng góp quan trọng cho sự tăng trưởng kinh tế chung của ngành thuỷ sản. Diện tích nuôi trồng thuỷ sản liên tục tăng: từ 887.500 ha năm 2001 lên khoảng 995.400 ha năm 2004. Theo đó, sản lượng nuôi trồng thuỷ sản tăng từ 879.000 tấn năm 2001 lên 1.420.000 tấn năm 2004, đạt mức tăng bình quân trên 20%/năm. Tỷ lệ giá trị xuất khẩu so với tổng giá trị xuất khẩu thuỷ sản không ngừng tăng, đến nay đạt khoảng 50%. Tỷ lệ sản lượng nuôi trồng trong tổng sản lượng thuỷ sản chiếm 39% năm 2001 đã tăng lên 48% năm 2004.

Có thể nói, KHCN đóng vai trò quan trọng hàng đầu trong việc sản xuất những sản phẩm thuỷ sản nuôi có chất lượng cao. Có được những thành tựu trên là nhờ sự đầu tư có trọng tâm về khoa học công nghệ cho phát triển nuôi trồng thuỷ sản trong đó tập trung vào 2 khâu sản xuất giống và kỹ thuật nuôi.

Một số loài thuỷ sản nước ngọt đã được sản xuất giống nhân tạo thành công như cá lăng chấm, cá lăng vàng, cá chuối, cá rô đồng, cá thát lát, baba... Riêng thuỷ sản nước mặn - lợ, số lượng công nghệ sản xuất giống được nghiên cứu thành công và đưa vào sản xuất tăng hơn trước. Từng bước cải thiện qui trình công nghệ sản xuất giống đối với các loài hải sản nước lợ mặn như: cá song, cá hồng Mỹ, cá giò, tôm sú, tôm rảo, tôm he Nhật Bản, cua bể, ốc hương...

Đối với rong biển, đã di nhập rong sụn và đưa vào sản xuất ở các tỉnh Nam Trung Bộ, Nam Bộ. Bước đầu, tạo ra lượng giống lớn, chất lượng cao cho phát triển nghề trồng rong biển ở nước ta. Giải quyết thành công việc sản xuất thức ăn tươi sống cho ấu trùng nhiều động vật thuỷ sản. Đến nay, đã di nhập, chọn lọc và lưu giữ bộ giống vi tảo làm thức ăn gồm hơn 10 dòng loài.

Giai đoạn 2001-2004 đánh dấu những thành công trong việc tiếp tục nghiên cứu, đa dạng các mô hình nuôi hiệu quả và nâng cao chất lượng sản phẩm thuỷ sản nuôi. Trong đó tập trung vào các công nghệ nuôi thâm canh, nuôi hữu cơ tạo sản phẩm đạt vệ sinh an toàn thực phẩm. Những loài nuôi chính như tôm sú, cá tra, basa, cá rô phi... bên cạnh cung cấp sản phẩm chủ yếu cho xuất khẩu còn phục vụ tiêu dùng nội địa.

Những khó khăn, thách thức đối với ngành nuôi trồng thuỷ sản, nhất là vấn đề môi trường và an toàn dịch bệnh đã và đang phát sinh, Bộ sẽ giải quyết vấn đề này ra sao?

Để đảm bảo nuôi trồng thuỷ sản phát triển nhanh hiệu quả, bền vững và bảo vệ môi trường sinh thái, ngành phải giải quyết tốt các vấn đề khó khăn như: ô nhiễm môi trường tự nhiên, dịch bệnh, quy hoạch nuôi trồng thuỷ sản còn bất cập, quy hoạch thuỷ lợi và cơ sở hạ tầng thuỷ lợi cho nuôi trồng thuỷ sản chưa phù hợp với nhu cầu phát triển, lực lượng chuyển giao công nghệ chưa mạnh.

Bản thân công tác KHCN cũng có những khó khăn, vướng mắc cần giải quyết: đội ngũ làm công tác KHCN còn thiếu, chưa đáp ứng nhu cầu nhiệm vụ ở mọi cấp, từ các tổ chức KHCN, đến các sở chuyên ngành địa phương và cấp huyện. Đầu tư cho hoạt động KHCN tuy có tăng nhưng chưa đủ, còn dàn trải...

Các cơ quan KHCN bước đầu đã đạt một số kết quả trong xử lí chất thải bùn, xử lí nước sạch cung cấp cho ao nuôi tôm, xử lý nước thải của các ao nuôi tôm bằng công nghệ vi sinh. Việc ứng dụng công nghệ nuôi ghép trong hệ thống nuôi tuần hoàn nước, áp dụng phương pháp nuôi hữu cơ, sinh thái bằng biện pháp áp dụng các chế phẩm sinh học, hạn chế sử dụng kháng sinh là những hướng nghiên cứu và ứng dụng cần được quan tâm.

Như vậy trong những năm tới, các giải pháp cụ thể phát triển nuôi trồng thuỷ sản và KHCN được định hướng thực hiện ra sao, thưa ông?

Trong thời gian tới, Bộ Thủy sản phối hợp với các ngành, các địa phương hoàn tất quy hoạch tổng thể NTTS hợp lí. Quy hoạch vùng gắn với qui hoạch chung, quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, trước hết là ở các vùng nhiều tiềm năng như ĐBSCL.

Các điạ phương phải có kế hoạch sử dụng đất và tài nguyên thiên nhiên phù hợp. Phát triển NTTS phải đảm bảo cân bằng 3 lợi ích: hiệu quả về mặt kinh tế, an toàn về mặt môi trường sinh thái và ổn định xã hội. Trong đó, cần chú ý hiệu quả về kinh tế: tức là sản phẩm thuỷ sản nuôi phải luôn có thị trường ổn định lâu dài, có tính cạnh tranh và thu lãi. Như vậy phải tập trung vào các công nghệ nuôi thâm canh, nuôi hữu cơ nhằm tạo sản phẩm an toàn vệ sinh bên cạnh đó phải hạ giá thành sản phẩm.

Triển khai thực hiện Quyết định số 112/2004/QĐ-TTg về chương trình phát triển giống thuỷ sản đến năm 2010, các địa phương trong nước căn cứ vào vai trò, vị trí của NTTS ở địa phương mình mà có những cơ chế và chính sách quản lí, hỗ trợ, khuyến khích các tổ chức cá nhân tham gia phát triển NTTS.

Về thuỷ lợi, phải tận dụng tối đa khả năng và cải tạo hệ thống thuỷ lợi hiện có cho NTTS. Qui hoạch và xây dựng mới hệ thống kênh đưa nước mặn, ngọt bổ sung vào một số khu vực như bổ sung mặn ở Mĩ Xuyên, Vĩnh Châu (Sóc Trăng), nam quốc lộ 1A thuộc tỉnh Bạc Liêu...

Đối với công tác khuyến ngư, nhanh chóng chuyển giao công nghệ mới, tiên tiến về NTTS, về giống thuỷ sản... vào sản xuất. Tập trung nghiên cứu, đầu tư sản xuất những loài thuỷ sản có giá trị kinh tế cao như tôm sú, cá tra, cá ba sa, cá rô phi đơn tính... ở mỗi tỉnh. Hỗ trợ trung tâm cung cấp giống bố mẹ thuần chủng cho hệ thống các trại giống, hoặc các khu công nghiệp sản xuất giống tập trung. Nuôi xen canh và luân canh là giải pháp kĩ thuật cơ bản cần trở thành kĩ thuật canh tác. Tổ chức mạng lưới rộng rãi nhiều người tham gia NTTS để cảnh báo môi trường, kiểm soát dư lượng hoá chất trong sản phẩm thuỷ sản nuôi ở mỗi địa bàn nuôi. Tổ chức mã số hoá vùng nuôi và công nhận xuất xứ sản phẩm.

Kim Oanh