|
|
|
Báo động ô nhiễm môi trường
Khoa học phổ thông, 24/9/2004
Theo khảo sát mới đây của Vụ Khoa học - Công nghệ, Bộ Thủy sản, ngành nuôi trồng và khai thác thủy sản ở nước ta đang có những tác động tiêu cực đến môi trường. Nguyên nhân chính là do cách làm không hợp lý, thiếu qui hoạch, ảnh hưởng đến đời sống thiên nhiên và con người. Tác động chính của ngành thủy sản tới môi trường sinh thái và tài nguyên thủy sản được xác định cụ thể thông qua hoạt động của 3 ngành sản xuất khai thác hải sản, nuôi trồng thủy sản, chế biến thủy sản.
Hoạt động khai thác hải sản bừa bãi
Từ 10 năm trở lại nay, tốc độ tàu thuyền khai thác thủy sản tăng nhanh đáng kể, cùng theo đó là hiện tượng khai thác bằng các ngư cụ phạm pháp: mắt lưới quá nhỏ, mìn, điện, chất hóa học, đều gây nên tác động xấu tới nguồn lợi hải sản và môi trường biển. Kết quả của nhiều cuộc điều tra cho thấy tới hơn 50% số ngư dân được phỏng vấn đều cho rằng sản lượngkhai thác có xu hướng giảm, khuynh hướng này chắc chắn đe dọa tính bền vững của nguồn lợi hải sản.
Về hàm lượng cyanur và dầu trong môi trường nước biển: Theo báo cáo hiện trạng Môi trường Việt Nam của Bộ Khoa Học Công Nghệ thì từ năm 2000 đến nay, do ngư dân bắt đầu sử dụng cyanur trong khai thác nên có tới 50% số mẫu khảo sát cho thấy có hàm lượng cyanur vượt quá giới hạn cho phép. Mặc khác, với mật độ tàu thuyền khai thác lớn thì lượng chất thải, dầu, nước dằn tàu xả ra môi trường nước xung quanh cũng là một vấn đề gây nên ô nhiễm môi trường biển. Bên cạnh đó là các sự cố, tai nạn hàng hải đều là nguyên nhân gây ô nhiễm, phá hủy môi trường sống thuỷ sinh. Tổng sản lượng dầu xâm nhập vào môi trường biển Việt Nam năm 2000 đã là 17.650 tấn... tình trạng dùng chất nổ và cả cyanur trong khai thác hải sản đã đe dọa đến 85% diện tích rạng san hô ở VN. Một nghiên cứu nay cho thấy chỉ còn khoảng một phần trăm ở Vn được xếp loại tốt. Nuôi trồng thủy sản thiếu quy hoạch.
Nuôi trồng thủy sản mặn - lợ được xác định như hướng phát triển mang tính đột phá của ngành thủy sản những năm qua. Với mục tiêu tăng tỷ lệ sử dụng, mặt nước tiềm năng cho nuôi trồng thủy sản cũng như tăng hơn nữa sản lượng nuôi trồng thủy sản. Vì vậy, rất nhiều diện tích rừng ngập mặn, đất trồng lúa đã và đang được chuyển đổi sang làm đầm nuôi tôm, cùng với các chất thải từ ao nuôi đã trở thành những nguy cơ gâyô nhiễm hưu cơ nghiêm trọng cho các vùng ven biển.
Tác động trước tiên có thể kể đến là việc phát triển nuôi trồng thủy sản, làm thu hẹp diện tích rừng ngập mặn. Năm 1943cả nước có gần 400.000ha rừng ngập mặn, trong đó rừng ngập mặn ven biển Nam bộ chiếm tới 250.000ha. Do chiến tranh và do con người tàn phá, bao công cả việc phá rừng ngập mặn để làm đầm nuôi tôm, đến năm 2001 cả nước chỉ còn chưa tới 150.000ha rừng ngập mặn, trong đó 70% là rừng trồng, chất lượng rừng ở mức nghèo kiệt. Mất rừng ngập mặn, đi đôi với mất cái nôi sinh trưởng của tôm, cá nhỏ không những ảnh hưởng đến môi trường mà còn dẫn đến tình trạng suy giảm nguồn lợi hải sản.
Ô nhiễm và nhiễm mặn nguồn nước: hầu hết các hộ gia đình nuôi trồng thủy sản đều không tiến hành xử lí nước thải trước khi thải ra môi trường, tronh khi phần lớn họ đều sử dụng các hóa chất trong quá trình nuôi. Thậm chí ngay cả khi không sử dụng hóa chất thì các chất thức ăn dư thừa, các chất hữu cơ cũng có thể là nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước. Các loại phân bón, thức ăn nhân tạo...sử dụng trong nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là trong nuôi lồng bè ở các vùng với mật độ lồng cao đã làm cho môi trường nước nuôi ở đây bị ô nhiễm, gây ra dịch bệnh không những cho thủy sản nuôi mà còn cho cả con người sử dụng nguồn nước ô nhiễm này trong sinh hoạt.
Hiện nay nuôi tôm trên cát đang là 1 hướng mở mới cho ngành nuôi trồng thủy sản, tuy nhiên do phát triển cho có quy hoạch nên mới trong một thời gian ngắn đã có hiện tượng suy giảm và nhiễm mặn nguồn nước ngầm tại các vùng sử dụng nước ngầm cho nuôi tôm.Có tới 41% số hộ gia đình nuôi tôm được điều tra tại Ninh Thuận cho rằng chất lượng nguồn nước bi xấu đi và hiện tượng nhiễm mặn nguồn nước ngọt trở nên khá phổ biến (có những ao nuôi tôm có nguồn nước ngọt có độ mặn lên tới 16-17%).
Ô nhiễm và nhiễm mặn nguồn nước là một vấn đề hết sức nghiêm trọng vì nó vừa ảnh hưởng đến sản xuất lại vừa ảnh hưởng trực tiếp đến sinh hoạt và sức khỏe của con người.
Và chế biến thủy sản
Ngành chế biến thủy sản cũng gây ra khá nhiều tác hại cho môi trường bằng số lượng lớn nước thải (10-12 triệu m khối/ năm) và chất thải rắn và phế thải (khoảng 170.000 - 180.000 tấn/ năm).
Ngoài ra, số lượng lớn tiếng ồn, độ ẩm, nhiệt, khí thải, mùi có nguồn gốc từ các hoạt động chế biến thủy sản cũng là một nguyên nhân đáng kể ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường xung quanh và cả sức khỏe của người lao động.
Ngành chế biến đã có các bước cải thiện tích cực trong công tác bảo vệ môi trường như: nâng cấp, cải tạo nhà xưởng, đầu tư đổi mới trang thiết bị, công nghệ, áp dụng vi phạm sản xuất tốt - GMP, vi phạm vệ sinh tốt - SSOP, chương trình quản lý chất lượng HACCP, thực hiện các tiêu chuẩn ngành, quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm trong cả quá trình từ nuôi trồng thủy sản cho tới khâu tiêu thụ sản phẩm cuối cùng.
Tuynhiên, do phần lớn các xí nghiệp chế biến đã được xây dựng từ lâu, điều kiện tài chính hạn hẹp, công nghệ và thiết bị xử lý lại qua đắt tiền, cộng với công tác quản lý môi trường còn lỏng lẻo nên kết quả là hiện chỉ có trên 40 cơ sở trong tổng số các cơ sở chế biến thủy sản trong cả nước có hệ thống xử lý nước thải, đáp ứng yêu cầu chất lượng nước thải sau xử lý...
Phạm Phú Hiện