|
|
|
Sự cần thiết của luật thủy sản trong phát triển kinh tế - xã hội
WAG, 23/9/2004
Thủy sản là một trong những ngành kinh tế - kỹ thuật quan trọng của đất nước. Những năm qua, ngành này đã giải quyết việc làm cho hàng triệu lao động, bảo đảm nguồn thực phẩm dồi dào cho xã hội, góp phần quan trọng vào sự tăng trưởng kinh tế đất nước, đặc biệt là giá trị xuất khẩu. Nhưng thực tiễn hoạt động nuôi trồng, khai thác, chế biến, xuất khẩu thủy sản ở nước ta trong thời gian qua lại thiếu một hệ thống pháp luật đồng bộ, hoàn chỉnh nhằm tạo khung pháp lý cho sự phát triển ổn định và bền vững cho ngành Thủy sản trong điều kiện mới, trong khi pháp luật vẫn xác định nguồn lợi thủy sản là tài nguyên thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý.
Để
đáp ứng yêu cầu trên, ngày 26-11-2003 Quốc hội nước ta đã
thông qua Luật Thủy sản thay cho Pháp lệnh Bảo vệ và phát
triển nguồn lợi thủy sản năm 1989; Luật Thủy sản có hiệu
lực thi hành từ ngày 1-7-2004. Về phạm vi, luật này được áp
dụng đối với hoạt động của tổ chức, cá nhân là người
Việt Nam; tổ chức, cá nhân nước ngoài trên đất liền, hải
đảo, vùng nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và
thềm lục địa của Việt Nam. Hoạt động thủy sản ở nước
ta phải tuân theo các nguyên tắc chung là: Phải bảo đảm
hiệu quả kinh tế gắn với việc bảo vệ, tái tạo và phát
triển nguồn lợi thủy sản, tính đa dạng sinh học, bảo vệ
môi trường và cảnh quang thiên nhiên và phải tuân theo quy
hoạch, kế hoạch phát triển ngành Thủy sản trong phạm vi cả
nước và từng địa phương; chủ động phòng, tránh và giảm
nhẹ tác hại của thiên tai và dịch bệnh thủy sản, bảo đảm
an toàn cho người, công trình và thiết bị trong hoạt động
thủy sản; phải kết hợp với bảo đảm quốc phòng, an ninh,
bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia trên sông, biển.
Việc
khai thác thủy sản phải bảo đảm nguyên tắc không làm cạn
kiệt nguồn lợi thủy sản, phải tuân theo quy định về vụ mùa
khai thác, thời hạn khai thác, vùng khai thác, chủng loại và kích
cỡ thủy sản được khai thác, sản lượng cho phép khai thác hàng
năm, phải tuân theo quy định của luật này và các văn bản pháp
luật khác có liên quan; sử dụng các loại ngư cụ, phương
tiện khai thác thủy sản có kích cỡ phù hợp với các loài
thủy sản được phép khai thác.
Quy
hoạch phát triển nuôi trồng thủy sản là một bộ phận của
quy hoạch tổng thể phát triển ngành Thủy sản, quy hoạch phát
triển nuôi trồng thủy sản của địa phương phải phù hợp
với quy hoạch phát triển nuôi trồng thủy sản của cả nước.
Tổ chức, cá nhân sử dụng đất để nuôi trồng thủy sản
ngoài việc chấp hành, thực hiện đúng quy định của luật này,
còn phải thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người sử
dụng đất theo quy định của Luật Ðất đai năm 2003 và các
quy định khác của pháp luật có liên quan.
Về
chế biến, mua bán, xuất khẩu, nhập khẩu thủy sản: Ðịa điểm
xây dựng phải theo quy hoạch; nhà xưởng, kho chứa, trang
thiết bị, dụng cụ chế biến, dụng cụ vệ sinh, hệ thống
xử lý nước thải, chất thải rắn và khí thải, trang thiết
bị kiểm tra chất lượng sản phẩm phải bảo đảm tiêu
chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm, bảo
vệ môi trường theo quy định. Nhà nước khuyến khích, tạo điều
kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần
kinh tế đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa thủy sản, phát triển
thị trường xuất khẩu thủy sản.
Quản
lý Nhà nước về thủy sản tiếp tục được tăng cường,
Luật Thủy sản lần này đã xác định rõ chức năng quản lý
Nhà nước của Bộ Thủy sản, các Bộ, ngành có liên quan và
Ủy ban nhân dân các cấp trong quản lý Nhà nước về thủy
sản ở phạm vi cả nước, đối với từng ngành, từng lĩnh
vực và ở địa phương; Thanh tra chuyên ngành về thủy sản
được củng cố để thực hiện chức năng thanh tra việc thi hành
pháp luật về thủy sản; phát hiện ngăn chặn kịp thời các
hành vi vi phạm pháp luật về thủy sản.
Luật
Thủy sản ra đời, đi vào cuộc sống đã tạo nền tảng,
khung pháp lý quan trọng cho sự phát triển ổn định và bền
vững của ngành Thủy sản Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay.
PHAN
THANH