|
|
|
Ba năm hoạt động của dự án Quản lý môi trường nuôi trồng thủy sản ven biển
Fisternet, 9/2004
Dự án Quản lý môi trường nuôi trồng thủy sản (NTTS) ven biển có mã hiệu VIE/97/030/A/01/NEX, được thực hiện từ tháng 3/2001 đến tháng 3/2004 với sự cam kết của các bên : Bộ Thủy sản, Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP), Viện nghiên cứu NTTS I và Văn phòng Dịch vụ dự án của Liên hợp quốc.
Mục tiêu chung của dự án là phát triển bền vững NTTS ven biển ở vùng Bắc Trung Bộ nước ta, hướng tới 3 đích cụ thể là : Cải tiến các hệ thống quản lý môi trường NTTS ven biển phù hợp với vùng Bắc Trung Bộ; Hỗ trợ các cơ quan chức năng ở các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ xây dựng quy hoạch phát triển NTTS ven biển và các hướng dẫn quản lý môi trường; Nâng cao năng lực quản lý môi trường cho cán bộ quản lý, cán bộ khuyến ngư và cộng đồng người dân ven biển Bắc Trung Bộ.
Trong 3 năm hoạt động, các cán bộ của Viện nghiên cứu NTTS I - đơn vị thực hiện dự án - đã cùng chính quyền địa phương các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Thừa Thiên Huế, cán bộ thủy sản và người dân vùng thực hiện dự án triển khai hàng loạt công việc nhằm đạt các tiêu chí đã đặt ra khi xây dựng các văn kiện dự án.
Nhờ vào nguồn vốn đóng góp của UNDP và Quỹ uỷ thác của Chính phủ Ðan Mạch, dự án đã trang bị các thiết bị quan trắc môi trường và cảnh báo dịch bệnh trong NTTS cho phòng thí nghiệm cơ bản của Viện nghiên cứu NTTS I ở Cửa Lò và ở 3 tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Thừa Thiên Huế. Các thiết bị này đã phát huy được hiệu quả sử dụng, hỗ trợ các địa phương trong công tác quan trắc môi trường và cảnh báo dịch bệnh NTTS cho cộng đồng.
Dự án đã tiến hành đánh giá hiện trạng môi trường NTTS ven biển ở 3 tỉnh nói trên, thử nghiệm mô hình quản lý môi trường NTTS ven biển dựa vào tổ cộng đồng tự quản tại 6 xã điểm thuộc 3 tỉnh, từ đó đưa ra kế hoạch hành động cải tiến quản lý môi trường cấp hộ, phát triển quản lý môi trường NTTS dựa vào cộng đồng. Từ 6 xã điểm này, đã nhân rộng ra 7 xã ở vùng đầm phá Thừa Thiên Huế, 5 xã ở Nghệ An và 4 xã ở Thanh Hóa. Mô hình quản lý môi trường NTTS ven biển cấp hộ do dự án đưa ra đã được sự đón nhận và tham gia tích cực của 84 hộ dân trong 2 năm 2002 2003 và đã chứng tỏ hiệu quả tích cực của nó. Có thể lấy xã Quỳnh Bảng (Quỳnh Lưu, Nghệ An) là một ví dụ. Do có sự phối hợp chặt chẽ trong hoạt động với các cán bộ dự án và ngành thủy sản địa phương, được hướng dẫn chu đáo về quan trắc môi trường và tư vấn kỹ thuật, người dân ở đây đã rút ra được những bài học kinh nghiệm từ thất bại của năm trước (có tới 80% số hộ NTTS bị thua lỗ) để liên tiếp giành thắng lợi trong 2 năm qua : số hộ nuôi có lãi năm 2002 là 69%, năm 2003 là 73%. Chỉ còn 8% số hộ nuôi năm qua bị thất bại và trung bình mỗi hộ thu lãi 35 triệu đồng.
Phải thừa nhận dự án đã có cách tiếp cận riêng trong việc xây dựng mô hình quản lý môi trường NTTS ven biển cấp hộ, đó là đưa trực tiếp kỹ thuật đến người sản xuất, gắn trách nhiệm của họ với kết quả của mô hình nên đã động viên được các hộ nỗ lực tham gia hết mình để đảm bảo mô hình thành công. Cách tiếp cận này có tính ứng dụng cao và mô hình quản lý có sự tham gia của cộng đồng do dự án đưa ra đã chứng tỏ tính phù hợp và bền vững, có tác dụng nâng cao ý thức của người dân tự nguyện tham gia tổ cộng đồng tự quản. Các kinh nghiệm về cải tiến mô hình quản lý môi trường NTTS ven biển phù hợp với đặc điểm địa phương của dự án đã được tổng kết, phổ biến nhân rộng cho các cộng đồng ven biển trong vùng Bắc Trung Bộ.
Ðể hỗ trợ các cơ quan chức năng ở các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ xây dựng quy hoạch phát triển NTTS ven biển và các hướng dẫn quản lý môi trường, dự án đã triển khai lập bản đồ, cơ sở dữ liệu vùng rừng ngập mặn ở tỉnh Nghệ An và khu NTTS ở 3 xã điểm thuộc tỉnh Thanh Hóa và Thừa Thiên Huế là Hoằng Phong, Xuân Lâm và Vinh Giang, giúp các cơ quan chức năng của địa phương lập quy hoạch phát triển NTTS và quản lý môi trường NTTS trong vùng quy hoạch. Thông qua việc lập quy hoạch có sự tham gia của người dân, dự án đã tổng kết các bài học kinh nghiệm để phổ biến cho chính quyền địa phương và cộng đồng ngư dân ven biển các tỉnh Bắc Trung Bộ.
Nhằm mục tiêu nâng cao năng lực quản
lý môi trường cho các cán bộ quản lý, cán bộ khuyến ngư và
cộng đồng người dân ven biển Bắc Trung Bộ, trong 3 năm qua
dự án đã tổ chức 41 đợt tập huấn cho 1.686 lượt người
tham gia (trong đó gần 30% là nữ) về các lĩnh vực liên quan đến
kỹ thuật nuôi, quản lý môi trường và dịch bệnh trong NTTS ven
biển; 22 cuộc họp cộng đồng với 418 lượt nguời tham dự (có
25% là nữ) nhằm phát động việc quản lý môi trường NTTS dựa
vào cộng đồng; 2 đợt tham quan chéo ở trong nước cho các
cộng đồng ngư dân tham gia dự án. Nhiều lớp tập huấn cho cán
bộ thủy sản và cán bộ khuyến ngư ở địa phương về quản
lý môi trường và dịch bệnh, phương pháp vận hành thiết bị
thí nghiệm đã được triển khai. Nhiều cán bộ của dự án và
ở địa phương đã được cử đi tham quan,tập huấn ngắn hạn
ở nước ngoài. Tất cả những hoạt động đó đã tác động tích
cực đến ý thức của cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật và
cả cộng đồng dân cư trong việc quản lý môi trường NTTS ven
biển ở địa phương.
Nhận xét về kết quả hoạt động
của dự án tại địa phương, Giám đốc Sở Thủy sản Thừa
Thiên Huế và là giám đốc hợp phần Thừa Thiên Huế của dự
án, ông Nguyễn Lương Hiền cho biết : Dự án đáp ứng được yêu
cầu phát triển NTTS của địa phương, đã xây dựng được
một số mô hình cụ thể về quản lý cộng đồng trong NTTS ở
địa phương qua đó góp phần nâng cao năng lực quản lý môi trường
cho cán bộ kỹ thuật và người dân nơi thực hiện mô hình.
Phó giám đốc Sở Thủy sản Nghệ An Nguyễn Quốc Thành, giám đốc hợp phần Nghệ An, khẳng định tác dụng của dự án đối với địa phương là đã nâng cao được nhận thức cho cả cán bộ lãnh đạo và người nuôi về vấn đề môi trường trong NTTS ven biển. Người dân nhiều vùng ven biển Nghệ An đã hiểu biết khá rõ ràng về khái niệm quản lý cộng đồng .
Phó giám đốc Sở Thủy sản Thanh Hóa Ðặng Văn Thông, giám đốc hợp phần Thanh Hóa, lại rất hài lòng vì người dân vùng thực hiện dự án ở đây đã được hưởng lợi nhiều hơn so với những gì dự án đặt ra lúc ban đầu.
Khi đánh giá 3 năm triển khai thực hiện dự án, tiến sỹ Phạm Anh Tuấn, giám đốc dự án đã nói ngắn gọn : Các kết quả dự án thu được có ảnh hưởng rất quan trọng, góp phần điều chỉnh định hướng phát triển NTTS bền vững và bảo vệ môi trường ven biển các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ. Các hoạt động và kết quả của dự án cũng đã đóng góp vào việc thực hiện các mục tiêu chung như xoá đói giảm nghèo cho cộng đồng dân cư vùng ven biển, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập thông qua phát triển NTTS song song với bảo vệ môi trường và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên ven biển. Tiến sỹ Tuấn cũng cho biết : Hưởng lợi từ các kết quả thử nghiệm của dự án, nhiều địa phương đã đưa nội dung và mô hình quản lý cộng đồng vào nghị quyết phát triển kinh tế của địa phương.
Ông Klavs Bender, cố vấn trưởng của dự án, cho rằng dự án đã thành công là do có một đội ngũ cán bộ dự án nhiệt tình, năng nổ, có sự hưởng ứng của địa phương triển khai dự án và sự hỗ trợ tài chính của nhà tài trợ. Ông cũng ghi nhận tại những nơi triển khai các nội dung của dự án, người dân nơi đó đã đánh giá cao các hoạt động của dự án.
Khép lại một quãng thời gian hoạt động của dự án, cũng có những ý kiến cho rằng cần tiếp tục có các dự án quản lý môi trường NTTS ven biển vì đây là một lĩnh vực có tầm quan trọng đối với phát triển bền vững NTTS. Phó giáo sư, tiến sỹ khoa học Trần Mai Thiên khẳng định : quản lý môi trường gắn với phát triển sản xuất, tăng năng suất và sản lượng, tăng sản phẩm xã hội. Việc mở rộng tác động của dự án ra ngoài vùng dự án là điều rất nên làm, nhất là hiện nay, không chỉ NTTS ven biển mà cả NTTS biển cũng đang phát triển rất mạnh.
Môi trường NTTS ven biển ở nước ta đang có những biểu hiện diễn biến theo chiều hướng xấu, đe dọa đến tính bền vững của sự phát triển NTTS trong tương lai. Tăng cường các hệ thống quản lý môi trường NTTS ven biển và nâng cao năng lực quản lý môi trường có sự tham gia của cộng đồng dân cư vùng ven biển là điều hết sức cần thiết và cấp bách. Với ý nghĩa đó, những gì mà dự án VIE 97/030/A/01/NEX đã làm được trong 3 năm qua là rất đáng trân trọng.
Ðỗ Ðức Hạnh