|
|
|
Bất cập trong việc nuôi cá sấu nước ngọt
Ntnn, 30/8/2004
Hiện nay, tình trạng ứ đọng cá sấu do việc phát triển chăn nuôi tự phát đã làm cho người dân hết sức khó khăn (chủ yếu ở đồng bằng sông Cửu Long). Chỉ tính riêng tại địa bàn tỉnh Đồng Tháp, theo thống kê sơ bộ đã có hơn 30.000 con cá sấu, trong đó hơn 10.000 con cá sấu đến kỳ xuất bán không tiêu thụ được. Sự gây nuôi tự phát không chỉ gây khó khăn cho người dân địa phương, mà chính quyền địa phương cũng rất lúng túng.
Cá sấu nước ngọt (Crocodylus siamensis) là loài động vật hoang dã quý hiếm nhóm IB (Nghị định 48/2002/NĐ-CP) và được xếp vào Phụ lục I, Công ước CITES (Công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp). Theo quy định thì cá sấu nước ngọt bị nghiêm cấm khai thác, chỉ được sử dụng chúng với mục đích gây nuôi phát triển. Cá sấu nước ngọt đánh bắt từ tự nhiên bị cấm xuất khẩu. Cá sấu nước ngọt gây nuôi sinh sản phải theo quy định, muốn xuất khẩu phải đạt được các điều kiện sau: các cá thể thuộc đối tượng F2 trở đi (thế hệ cháu được sinh ra từ cá sấu bố mẹ đánh bắt ở tự nhiên); phải có trại nuôi hội đủ các điều kiện như diện tích chuồng trại phù hợp với năng lực đã đăng ký, đảm bảo an toàn cho người và vật nuôi, có cán bộ chuyên môn quản lý, chăm sóc, ngăn ngừa dịch bệnh và có xác nhận của cơ quan quản lý môi trường địa phương; và điều quan trọng là phải đăng ký qua các cơ quan kiểm lâm và cơ quan thẩm quyền quản lý Công ước CITES Việt Nam và được Ban Thư ký Công ước CITES chấp nhận. Như vậy, những quy định của Nhà nước về gây nuôi cá sấu nước ngọt để xuất khẩu là rõ ràng và tương đối đầy đủ.
Theo thống kê từ năm 2002, cả nước có 75 trại nuôi chủ yếu là trại quy mô hộ gia đình, từ vài con đến vài chục con, rất ít trại có quy mô hàng nghìn con. Gây nuôi tự phát không báo cáo nên việc thống kê số trại nuôi và số lượng cá sấu khó khăn. Thực tế, riêng tại tỉnh Đồng Tháp, một tỉnh được đánh giá với mức gây nuôi trung bình đã tồn đọng tới hơn 30.000 con, cả vùng đồng bằng sông Cửu Long số tồn đọng lên tới cả trăm nghìn con, và con số chắc chắn không chỉ dừng ở 75 trại (thông tin từ các Chi cục Bảo vệ nguồn lợi thủy sản). Việc tồn đọng này là hậu quả tất yếu của sự tự phát gây nuôi mà các cơ quan chức năng đã cảnh báo; nó cho thấy việc nuôi cá sấu nước ngọt của chúng ta có quá nhiều bất cập.
Bất cập về gây nuôi
Những năm 90, một số ít hộ nuôi, họ xuất bán sang Trung Quốc và một số nước khác theo đường tiểu ngạch, được giá, từ đó đồn thổi, tạo dư luận khiến người dân đổ xô vào nuôi cá sấu. Họ tìm mọi cách lùng mua cá sấu từ các nguồn khác nhau, trong đó có cả việc mua trôi nổi từ Campuchia. Chính sự đắt giá của cá sấu nên phong trào nhà nhà nuôi cá sấu rộ lên, họ coi đó là nghề "xóa đói giảm nghèo". Họ tranh nhau mua cá sấu giống, đẩy giá lên cao (có thời kỳ cá sấu 1-2 năm tuổi giá tới 5 cây vàng). Từ năm 1994, Việt Nam là thành viên chính thức của Công ước CITES. Những quy định về gây nuôi, mua bán, vận chuyển, xuất nhập khẩu cá sấu được quy định chặt chẽ hơn. Cá sấu mua trôi nổi, có nguồn gốc bất hợp pháp không những không được tiêu thụ mà việc gây nuôi còn bị coi là vi phạm pháp luật. Việc không tiếp cận được thông tin nên khi nghe tin cá sấu được xuất khẩu, số người lao vào nuôi cá sấu nhiều hơn. Đến nay, khi mà việc xuất cá sấu tiểu ngạch sang Trung Quốc (thực tế là xuất trái phép) không thực hiện được thì giá cá sấu sụt giảm. Có lúc xuống còn 1-2 triệu đồng/con cá sấu 10 năm tuổi mà vẫn ít người mua. Làm kiểu "ăn xổi, ở thì" nên các trại nuôi cá sấu không đầu tư quy củ. Khi giá cao thì đổ xô nuôi, khi giá hạ thì bỏ. Không như những loài khác, giải quyết "hậu cá sấu" không đơn giản. Xuất khẩu không được, tiêu thụ trong nước không xong, tiếp tục nuôi thì tốn kém, thậm chí nếu không cẩn thận để cá sấu sổng khỏi trại thì hậu quả sẽ khôn lường. Những toan tính sai lầm nhằm "xóa đói, giảm nghèo", đã làm người dân "nghèo thêm". Người dân kiến nghị, đổ lỗi cho chính quyền địa phương và cơ quan chức năng.
Bất cập về tiêu thụ
Thực tế, nuôi cá sấu ở nước ta nhằm mục đích xuất khẩu thu ngoại tệ. Thế nhưng, để cá sấu ra được nước ngoài không đơn giản. Trước hết chủ trại cá sấu phải chứng minh được nguồn gốc hợp pháp, có trại nuôi đủ tiêu chuẩn, đúng là thế hệ F2, có hạn ngạch xuất khẩu, với cách sản xuất manh mún thì không phải trại nuôi nào cũng thực hiện được. Và điều quan trọng là phải có người mua, sản phẩm cạnh tranh được với các nước đã có kinh nghiệm trong gây nuôi cá sấu (cá sấu của ta gây nuôi trong điều kiện chật chội nên da thường bị trầy xước, không đạt tiêu chuẩn xuất khẩu). Để giải quyết những ách tắc, Cơ quan thẩm quyền quản lý Công ước CITES Việt Nam đã kiểm tra, trình Ban Thư ký Công ước CITES đồng ý cấp hạn ngạch 15.000 con/năm cho 5 trại nuôi có đủ điều kiện là: Tồn Phát, Hoa Cà, Forimex, Suối Tiên (TP.HCM) và An Giang (tỉnh An Giang). Thế nhưng, trong 6 tháng đầu năm 2004, chỉ có Trại cá sấu Tồn Phát xin phép xuất khẩu sang Trung Quốc với 2 giấy phép tổng cộng 2.900 con. Các trại: An Giang, Forimex, Suối Tiên từ khi được cấp hạn ngạch đến nay chưa xuất được con nào... vì không có ai mua. Một số cơ sở có hướng chuyển từ việc xuất khẩu cá sấu sang xuất da cá sấu muối và thịt đông lạnh, tuy nhiên da muối và thịt đông lạnh không thể để lâu được và nuôi phải phụ thuộc vào các lái buôn quốc tế. Việc tiêu thụ cá sấu trong nước lại càng khó khăn hơn. Sản phẩm thịt và da cá sấu ở thị trường Việt Nam khá đắt (một chiếc dây lưng có giá hàng triệu đồng, một chiếc túi xách có giá tới vài triệu đồng; một kg thịt cá sấu cũng có giá hàng trăm nghìn đồng), nó chỉ phục vụ những người giàu có, khách du lịch hoặc mua làm quà biếu. Vừa qua, tại Việt Nam, mặt hàng mỹ nghệ sản xuất từ da cá sấu được bán tại các khu du lịch, các cửa hàng miễn thuế. Đây là vấn đề cần phải quản lý vì liên quan đến nhiều thủ tục pháp lý. Ngay cả việc chiếm lĩnh thị trường trong nước cũng là vấn đề không dễ. Để có được sản phẩm trị giá hàng triệu đồng, ngoài việc có nguồn cá sấu hợp pháp, cần phải có ngành công nghiệp chế biến da phát triển. Da cá sấu dùng làm mặt hàng mỹ nghệ phải có chất lượng tốt, mềm, dai, màu sắc đẹp. Đây là công nghệ cần có sự đầu tư lớn, ở nước ta chưa có tổ chức, cá nhân nào đứng ra làm việc này. Những quy định và bất cập trong việc gây nuôi và tiêu thụ cá sấu ở Việt Nam dẫn tới tình trạng nơi có cá sấu thì không đủ điều kiện xuất khẩu, nơi được xuất thì không có bạn hàng.
Những việc cần làm
Để việc gây nuôi cá sấu trở thành một nghề đem lại thu nhập cho người dân, các trang trại hộ gia đình cần liên kết thành các trại nuôi lớn, có đủ điều kiện như quy định của Công ước CITES và đăng ký với cơ quan chức năng. Việc này không những đảm bảo “điều kiện đủ” để sản phẩm cá sấu được xuất khẩu mà còn tạo điều kiện tốt cho quá trình gây nuôi. Các trại sẽ thuận tiện bố trí như phân công hộ chuyên nuôi sinh sản, hộ chuyên nuôi vỗ béo... Hướng tới thị trường xuất khẩu và trong nước không chỉ bằng cá sấu nguyên con. Xuất khẩu cá sấu nguyên con phụ thuộc hoàn toàn vào thị trường các nước, giá cả không cao mà còn khó cạnh tranh với các nước có công nghệ gây nuôi phát triển như Thái Lan, Indonesia, Philippines và Campuchia. Các trại nuôi cá sấu cần liên kết với nhau hoặc liên kết với các nhà máy chế biến, đầu tư công nghệ thuộc da, công nghệ nhuộm màu da và chế biến thành các sản phẩm hoàn chỉnh... tiến tới xây dựng thương hiệu cho cá sấu Việt Nam. Điều này tránh được sự khó tính của thị trường đối với cá sấu và sản phẩm của nó.
Hành lang pháp lý đã có, để việc gây nuôi cá sấu trở thành tự giác và là một nghề của người dân, thiết nghĩ các cấp chính quyền và ngành chức năng cần đẩy mạnh việc tuyên truyền vận động nhân dân, nhất là các hộ đã, đang và sẽ có ý định gây nuôi loài động vật hoang dã này. Và điều quan trọng là các hộ gia đình, các chủ trang trại nuôi cá sấu cần tuân thủ pháp luật và làm theo khuyến cáo của các ngành chức năng để tránh bị “tiền mất, tật mang".