Free Web Hosting by Netfirms
Web Hosting by Netfirms | Free Domain Names by Netfirms

"Phố tôm" Thạnh Phước

BCT, 27/8/2004

 

Từ một xã nghèo nhất ở Bến Tre, nhưng chỉ hơn 4 năm chuyển dịch, xã Thạnh Phước đã đổi thay nhanh chóng; trở thành xã giàu của tỉnh. Đặc biệt, Thạnh Phước là nơi đầu tiên phát triển mô hình nuôi tôm hợp tác, hiệu quả cao...

Tìm cách thoát nghèo

Chúng tôi đến Thạnh Phước, huyện Bình Đại, khi trời vừa chập tối, Phó Chủ tịch xã Ngô Văn Thử, giục ra thăm cánh đồng tôm. Mặc dù đang vào mùa mưa, nhưng xe vẫn chạy bon bon trên con đường trải nhựa phẳng lỳ từ trung tâm xã ra tận các vuông tôm. Đi một vòng từ khu Đê Đông rộng 500 ha tôm công nghiệp, đến Dự án 1.100 ha tôm ở 2 ấp Phước Thạnh và Tân Long. Dọc hai bên đường đèn cao áp sáng rực, hệ thống thủy lợi kiên cố bằng bê tông, với mô hình nuôi hiện đại. Cánh đồng tôm về đêm nhộn nhịp đông người, nhiều trại giữ tôm còn trang bị cả ti-vi, đầu máy, âm ly... hát vang cả cánh đồng. Thật khó mà tin được ở xứ biển heo hút, nghèo khó trước đây; giờ chẳng khác nào là "thành phố" tôm sôi động. Chỉ ngôi nhà tường 2 tầng khang trang vừa xây dựng xong, Ba Ngò,  một nông dân nuôi tôm có tiếng trong vùng, hớn hở nói: "Hồi trước tụi này chỉ biết trồng lúa trên đất mặn, nên năm nào cũng thất, ai nấy nghèo rớt mồng tơi. Từ lúc chuyển sang nuôi tôm, đời sống đi lên ngó thấy. Nhiều hộ trước kia làm thuê, mà bây giờ trở thành tỉ phú rồi đấy".

Thạnh Phước có 2.200 hộ, với 9.264 nhân khẩu; vốn là vùng căn cứ cách mạng chịu nhiều mất mát trong chiến tranh. Sau ngày miền Nam giải phóng, Thạnh Phước bị liệt vào xã cực nghèo, phải trợ cấp thường xuyên. Cơ sở hạ tầng yếu kém, giao thông đi lại khó khăn, thiếu trường học, trạm y tế... Đất đai hoang hóa bị nhiễm phèn mặn, mỗi năm chỉ trồng được 1 vụ lúa bấp bênh; bình quân năng suất chỉ đạt 3- 4 giạ/công, tính ra không đủ chi phí đầu tư. Một số hộ bỏ lúa lên bờ bao đưa nước mặn vào làm muối, nhưng thất bát triền miên; cộng với giá muối quá thấp làm cho người dân càng nghèo thêm. Dân Thạnh Phước lần lượt bỏ quê, chạy đi khắp nơi làm thuê kiếm sống. Lão nông Nguyễn Văn Thực, ở ấp Tân Bình, kể lại: "Hồi ấy, nói tới xứ biển này thì ai cũng lắc đầu; có năm nhiều nhà phải ăn độn bo bo chống đói. Người ta truyền miệng nhau câu ca: "Ai về Thạnh Phước qua truông- Mưa tạt gió luồn thương mẹ nhớ cha" hay "Thạnh Phước nước mặn chà là gai- Đất cày lên toàn muối hột"... Chính từ những khó khăn về kinh tế, cộng với điều kiện đi lại cách trở; làm cho nhiều thanh niên Thạnh Phước lớn lên rất khó lấy vợ, bởi ai cũng sợ xứ biển heo hút này. Chính quyền xã Thạnh Phước và ngay cả huyện Bình Đại, triển khai hàng loạt biện pháp nhằm nâng cao đời sống người dân. Nhưng tất cả đều bất thành bởi lực bất tòng tâm.

Mãi đến năm 1999, Sở Thủy sản Bến Tre đầu tư hàng tỉ đồng thử nghiệm mô hình nuôi tôm công nghiệp, trên diện tích 16 ha ở ấp Tân Long. Hàng ngàn người dân Thạnh Phước tò mò đến xem, và không ít người nghi ngờ về hiệu quả. Họ cho rằng, ngành thủy sản mang tiền đem "đổ sông đổ biển", bởi cái xứ khắc khổ, nước mặn- đồng hoang này, trồng cây gì- nuôi con gì cũng thua lỗ. Không ngờ cuối vụ, thu hoạch đạt năng suất bình quân từ 6,5 tấn/ha trở lên; có ao đạt 7- 8 tấn/ha. Mở ra mô hình làm ăn mới.

Cả xã làm giàu

Khi con tôm bắt đầu thích ứng với đất mặn Thạnh Phước, Sở Thủy sản Bến Tre mạnh dạn đầu tư kinh phí xây dựng hệ thống thủy lợi kiên cố, chủ động việc lấy nước và thoát nước. Đồng thời, hỗ trợ tận tình kỹ thuật chăn nuôi. Đảng ủy xã lập ngay dự án chọn con tôm làm mũi đột phá thoát nghèo và vươn lên làm giàu. Cái hay của Thạnh Phước so với những nơi khác là không chủ trương phát triển diện tích tràn lan, trong khi cơ sở hạ tầng và thủy lợi chưa hoàn chỉnh. Xã vận động bà con đi từng bước "chậm mà chắc", nơi nào có điều kiện đầy đủ mới cho nuôi. Thạnh Phước chọn mô hình nuôi tôm công nghiệp ăn chắc và khuyến khích người dân liên kết phát triển. Mô hình "hợp tác" nuôi tôm được ra đời theo phương châm người nghèo góp đất đai, người khá góp vốn; Nhà nước hỗ trợ kỹ thuật và kêu gọi doanh nghiệp tham gia đầu tư cơ sở vật chất. Toàn bộ qui trình nuôi, từ khâu chọn giống đến chăm sóc và thu hoạch, có hẳn cán bộ chuyên môn theo dõi chặt chẽ. Từ đó, tránh được dịch bệnh và năng suất nuôi luôn đạt cao. Tổ hợp tác ở khu Đê Đông, ngay năm đầu tiên trúng lớn, ngoài thu lại nguồn vốn đầu tư  ban đầu; các thành viên được chia lời hàng chục triệu đồng. Chủ tịch xã Thạnh Phước, Nguyễn Văn Rê khẳng định: "Nuôi tôm công nghiệp đòi hỏi vốn lớn, nên người dân không lo nổi. Mô hình nuôi hợp tác đã tháo gỡ được vấn đề này và cái lợi lớn hơn là kiểm soát được dịch bệnh; giải quyết tốt tình trạng nguồn nước mang mầm bệnh thải tràn lan gây ô nhiễm". Đến nay, toàn xã có 11 tổ hợp tác nuôi tôm công nghiệp với diện tích trên 300 ha, thu hút hàng ngàn người tham gia. Liên tục trong 3 năm gần đây hoạt động rất hiệu quả.

Tháng 8- 2004, trong khi nhiều nơi bị thất mùa vì dịch bệnh đầu vụ kéo dài, nhưng người dân Thạnh Phước lại tiếp tục trúng mùa tôm, nhiều hộ thu lời hàng trăm triệu đồng đến cả tỉ đồng. Gia đình ông Nguyễn Văn Tịnh, ở ấp Tân Bình đang mở tiệc ăn mừng trúng vụ tôm, gặp chúng tôi ông hớn hở khoe: "Chỉ thu hoạch 2 ao trên diện tích 1,2 ha, đạt năng suất 8,7 tấn; trừ hết chi phí đầu tư cũng lời khoảng 400 triệu đồng. Như vậy, sống khỏe rồi!". Hay như lão nông Nguyễn Văn Thực vụ này chỉ nuôi 1 ao nhỏ khoảng 1,6 công, vậy mà trúng đậm, thu được gần 90 triệu đồng. Cả xã Thạnh Phước nhộn nhịp như ngày hội, nhiều nhà kéo bia về mời bè bạn đến chia vui trúng mùa tôm.

Diện tích tôm ở Thạnh Phước vừa được mở rộng lên 3.500 ha, trong đó hơn 720 ha tôm công nghiệp (chiếm 30% toàn huyện). Phó Chủ tịch Ngô Văn Thử chia vui: "360 ha tôm công nghiệp ở cánh đồng Bé đang được đầu tư hạ tầng, kinh phí trên 12 tỉ đồng; thả nuôi ngay trong vụ tới. Từ tỷ lệ 70% hộ nghèo, nay giảm xuống chỉ còn 1%, thu nhập bình quân đầu người ở Thạnh Phước trên 8,5 triệu đồng/người/năm. Đạt được như vậy là nhờ người dân biết khai thác "mỏ tôm" có hiệu quả, để vươn lên làm giàu. Với mục tiêu nâng thu nhập lên 15 triệu đồng/người/năm vào năm 2005, Thạnh Phước nhất định sẽ đạt được".

PHƯƠNG UYÊN