|
|
|
Vốn vay để nuôi tôm sú- vướng mắc cần tháo gỡ
VOV, 26/8/2004
Ông Nguyễn Đức Khiêm ở thôn Phương Cựu (xã Phương Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận) có 3 ao nuôi tôm, diện tích tổng cộng 1,2 ha. Sau nhiều vụ liên tiếp thua lỗ, gia đình ông trở thành "chúa chổm" của làng với món nợ lên tới hơn 50 triệu đồng. Ba người em của ông cũng cảnh ngộ tương tự, một người do vỡ nợ, bỏ hoang ao nuôi, hai người còn lại "vay nóng" nhiều nơi với lãi suất 5 – 7%/tháng. Với hy vọng gỡ vốn, ông Khiêm gom hết vốn liếng có trong tay nuôi 2 ao (dành một ao lắng nước như khuyến cáo của ngành thuỷ sản và ngân hàng), nhưng nguồn vốn ít ỏi chỉ đủ ông cầm cự trong tháng đầu, cho đến khi tôm bắt đầu ăn rỗi. Để có tiền mua thức ăn cho tôm và hoá chất trừ bệnh tôm, chật vật lắm ông Khiêm mới "vay nóng" được 20 triệu đồng của một người quen với lãi suất 5%/tháng. Vị chi mỗi tháng, riêng tiền lãi món "vay nóng" đã mất đứt 1 triệu đồng. Lo lắng, nhưng như lời ông nói, đã ở thế "cưỡi lên lưng hổ" không còn sự lựa chọn nào khác. Trong làng Phương Cựu có gần 300 hộ nuôi tôm, ước tính có đến 1/3 số hộ đang phải “vay nóng”, cố gắng duy trì con tôm bởi đó chính là "nồi cơm" của họ.
Trong khi đó, đến thời điểm đầu tháng 6, doanh số cho vay của Ngân hàng nông nghiệp – phát triển nông thôn tỉnh Ninh Thuận cho khu vực hộ gia đình, tổ hợp tác mới đạt 120 tỷ đồng, một con số quá khiêm tốn. Riêng lĩnh vực thuỷ sản, doanh số cho vay chỉ có 1,3 tỷ đồng gồm cả vốn ngắn hạn và trung hạn. So với nhu cầu của người nuôi tôm, số tiền đó chẳng thấm tháp vào đâu. Làm một phép tính, nếu bình quân một ha nuôi tôm được đầu tư 100 triệu đồng như định mức của ngành ngân hàng, thì 1.500 ha nuôi tôm hiện có của Ninh Thuận, cần số vốn lên tới 150 tỷ đồng. Đối với huyện Ninh Hải - địa phương chiếm đến hơn 70% diện tích nuôi tôm toàn tỉnh (1.080 ha), sau khi cân nhắc thận trọng, ngân hàng mới ký hồ sơ đồng ý cho khoảng 100 hộ vay với số vốn 2 tỷ đồng. Và cho đến thời điểm này mới chỉ có non 1 tỷ đồng được giải ngân.
Ở Quảng Nam, nghề nuôi tôm thuỷ sản được xem là đang trong giai đoạn phát triển mạnh. Riêng diện tích nuôi tôm sú chỉ sau ít năm đã đạt con số hơn 2.000 ha. Vụ nuôi năm 2004, ước tính người nuôi tôm cần số vốn cỡ 200 tỷ đồng. Nhưng doanh số cho vay của Ngân hàng Nhà nước và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Nam trong 6 tháng đầu năm nay cho lĩnh vực nuôi trồng thuỷ sản chỉ đạt 27 tỷ đồng, tương đương với định mức đầu tư cho 270 ha.
Nhìn vào doanh số cho vay, tỉnh Khánh Hoà có khá hơn với 61 tỷ đồng. Tuy nhiên, vốn đầu tư cho riêng tôm sú chỉ có 18 tỷ đồng, còn lại phần lớn cho tôm hùm lồng và các loại thuỷ hải sản khác. Với 4.500 ha nuôi tôm sú, tính bình quân suất đầu tư cho mỗi ha nuôi tôm chỉ là 4 triệu đồng. Xin được nói thêm rằng: nghề nuôi trồng thuỷ sản ở Khánh Hoà phát triển sớm và ổn định hơn so với các tỉnh miền Trung khác, hơn nữa lại được xác định là một trong những ngành kinh tế chủ lực.
Lý giải về tình trạng vốn đầu tư nuôi tôm sú “đóng băng”, ông Nguyễn Ngọc Chánh – Phó phòng Tín dụng Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn tỉnh Ninh Thuận khẳng định: Hạn chế cho người nuôi tôm sú vay vốn không phải vì thiếu nguồn vốn, càng không phải không muốn cho vay, mà bởi xung quanh con tôm sú có hàng loạt bất cập. Ông Chánh phân tích: Năm 2003, tôm bị dịch bệnh chết hàng loạt, vốn đầu tư cho nuôi tôm sú trên địa bàn bị thiệt hại 60 tỷ đồng. Muốn tiếp tục cho vay, ngân hàng phải thu được nợ. Mặc dù đã tập trung gần như toàn bộ lực lượng có thể cho nhiệm vụ này nhưng việc thu nợ hầu như không hiệu quả. Trong suốt nửa năm, số nợ từ nuôi trồng thuỷ sản thu hồi được chưa đầy 4 tỷ đồng. Toàn bộ số vốn bị thiệt hại phải thực hiện gia hạn đến lần thứ 2. Nếu xem đây là nợ quá hạn thì con số này tại Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn Ninh Thuận đã vượt qua ngưỡng 10%. Về nguyên tắc, những hộ dân đang có dư nợ tại ngân hàng (chiếm đa số trong những hộ nuôi tôm tại địa phương) sẽ không được vay vốn tiếp. Ngoài ra, nuôi tôm là nghề có hệ số rủi ro cao, trong khi hầu hết người nuôi đều không đảm bảo các tiêu chí kỹ thuật tối thiểu. Việc chuyển đổi sang các đối tượng nuôi trồng khác ít rủi ro hơn như tôm hùm, rong sụn, cá, cua, ghẹ, vẹm… đang trong giai đoạn thăm dò hoặc thử nghiệm, diện tích manh mún, chưa thực sự tạo được thế đứng vững chắc. Chưa nói đến tình trạng, do phát triển tự phát, ngoài vùng quy hoạch, nên có một bộ phận đáng kể hộ gia đình không được cấp sổ đỏ trên diện tích nuôi tôm. Hàng loạt bất cập đó đang là trở ngại lớn cho ngân hàng trong việc đầu tư vốn cho nuôi trồng thuỷ sản. Và cho đến nay, hướng tháo gỡ cho vấn đề này vẫn đang còn bỏ ngỏ...