Free Web Hosting by Netfirms
Web Hosting by Netfirms | Free Domain Names by Netfirms

Tạo đà tăng tốc cho con tôm càng xanh

Báo Cần Thơ, 25/8/2004

 

Việc đưa con tôm càng xanh xuống ruộng thời gian qua đã tạo nên một bước chuyển mới trong ngành khai thác nuôi trồng thủy sản khu vực ĐBSCL. Còn với người dân nuôi tôm, thành công từ mô hình lúa - tôm đang mở ra những triển  vọng về một tương lai xán lạn. Rất nhiều con người đã và đang ngày đêm nỗ lực vượt qua khó khăn để con tôm càng xanh có được  bước chuyển lạc quan góp phần nâng cao đời sống người dân đồng bằng...

BẮT ĐẦU TỪ KHÂU CON GIỐNG

Với những thuận lợi về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, ĐBSCL là nơi có tiềm năng rất lớn để phát triển nghề nuôi tôm càng xanh. Thế nhưng, một trong những trở ngại lớn cho nghề nuôi tôm là hạn chế về con giống. Anh Nguyễn Văn Bé Ba, ở quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ, một người có "thâm niên" trong nghề nuôi trồng thủy sản, kể lại: Trước đây muốn nuôi tôm càng xanh không phải dễ khi nguồn con giống chủ yếu được bà con nông dân thu gom trong tự nhiên rồi bán lại nên giá khá cao và chất lượng con giống có nhiều biến động. Vào những năm trước 1998, khi tôm giống trong tự nhiên trở nên khan hiếm, người nuôi tôm quay sang "cầu cứu" các trại giống thì cả khu vực ĐBSCL chỉ có duy nhất 1 trại sản xuất giống tôm càng xanh đặt tại huyện Long Mỹ, tỉnh Cần Thơ (cũ), sản lượng dưới 1 triệu con tôm bột/ năm.

Trong sản xuất giống tôm càng xanh, từ những năm 1980 Trường Đại học Cần Thơ và Viện Nghiên cứu nuôi trồng Thủy sản II đã có nhiều nghiên cứu và ứng dụng các quy trình sản xuất giống tôm càng xanh với các mô hình nước trong hở, nước trong tuần hoàn và nước xanh. Thế nhưng trong quá trình triển khai ứng dụng, các mô hình này đã bộc lộ nhiều hạn chế. Có mô hình đòi hỏi đầu tư cao, kỹ thuật phức tạp; có mô hình lại tốn nhiều công lao động và tiêu hao nước biển nên không khả thi khi ứng dụng đối với những trại giống nằm sâu trong đất liền. "Làm sao để có một quy trình sản xuất giống tôm càng xanh đơn giản, dễ áp dụng cả ở những vùng gần hay xa biển với quy mô nông hộ, là điều mà nhiều cán bộ khoa Thủy sản, Trường Đại học Cần Thơ trăn trở" - Tiến sĩ Nguyễn Thanh Phương, Trưởng khoa Thủy sản, Trường Đại học Cần Thơ, bộc bạch. Giữa lúc các nhà khoa học loay hoay chưa tìm ra giải pháp thì một cán bộ trong khoa Thủy sản đi học từ Malaysia về trình bày ý tưởng nghiên cứu cải tiến mô hình nước xanh đang ứng dụng. Nhận thấy đây là một ý tưởng hay, các thầy cô trong trường đã bắt tay ngay vào việc nghiên cứu, với mong muốn xóa bỏ rào cản con giống, phát triển nghề nuôi thủy sản nhiều tiềm năng này.

Bắt tay vào nghiên cứu, "vốn liếng"  trong tay của các nhà khoa học chỉ có duy nhất 1 bài báo cáo dài 2 trang giấy A4 của một đồng nghiệp người Malaysia về nguyên tắc mô hình. Internet chưa có, các tài liệu nghiên cứu trên sách vở cũng không, nên Tiến sĩ Nguyễn Thanh Phương và các cộng sự của anh phải "dò từng bước". Lúc đầu, do chưa có kinh nghiệm nuôi tảo nên thay vì cho màu xanh như mong muốn, tảo lại có màu... nâu đen, làm lại lần thứ hai thì xuất hiện rotifer (luân trùng) làm tảo tàn. Kích cỡ bể bao nhiêu, màu sắc ra sao? Nguồn nước, mực nước như thế nào thích hợp, độ mặn bao nhiêu? Loại thức ăn nào để đáp ứng dinh dưỡng của ấu trùng?... Để trả lời được những câu hỏi ấy đòi hỏi biết bao công sức, nỗ lực của cả tập thể những nhà khoa học nhiều tâm huyết. Thạc sĩ Trần Ngọc Hải - một thành viên của nhóm nghiên cứu, kể: Do vừa làm vừa rút kinh nghiệm nên lúc nào bể ương cũng có người túc trực 24/24 để theo dõi nhiệt độ môi trường, ghi nhận độ phát triển, đồng thời kịp thời xử lý các sự cố. Có lúc tưởng đã thành công thì con giống lại mắc bệnh giữa chu kỳ, phải tìm cách "khám bệnh", "kê đơn". Đợt ương đầu tiên thành công nhưng tỷ lệ không cao, cả nhóm quyết tâm làm lại từ đầu...

Thành công của các nhà khoa học Khoa Thủy sản Trường Đại học Cần Thơ đã tạo được sự quan tâm của nhiều địa phương và các tổ chức khoa học nước ngoài đặt vấn đề hợp tác với Khoa. Nhiều đề tài nghiên cứu tiếp tục ra đời nhằm hoàn thiện quy trình sản xuất giống và giảm chi  phí sản xuất. Kết quả  những ngày miệt mài với công việc của các nhà khoa học đầy nhiệt huyết ấy đã được đáp đền. Quy trình sản xuất giống tôm càng xanh mô hình nước xanh cải tiến cơ bản hoàn thiện với nhiều ưu điểm như: không thay nước, không vệ sinh bể và không bổ sung thêm tảo trong quá trình ương, hệ thống rất đơn giản, chi phí thấp, dễ áp dụng cho nhiều đối tượng và cả những vùng xa biển. "Từ 1 trại giống duy nhất năm 1998, hiện nay cả khu vực ĐBSCL có hơn 90 trại giống áp dụng mô hình nước xanh cải tiến. Công trình "Nghiên cứu, xây dựng và ứng dụng quy trình sản xuất giống tôm càng xanh mô hình nước xanh cải tiến" cũng vừa được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trao giải thưởng cao quý "Bông lúa vàng Việt Nam năm 2003". Anh Phương, anh Hải và các nhà khoa học Khoa Thủy sản không giấu được niềm vui khi nhắc đến giải thưởng này. Thế nhưng, tôi hiểu tiến sĩ Nguyễn Thanh Phương rất thật lòng khi bộc bạch: "Niềm vui lớn nhất là có rất nhiều bà con đăng ký học chuyển giao kỹ thuật ương giống tôm theo mô hình này. Con giống càng nhiều, giá thành hạ thì càng đáp ứng nhu cầu nuôi của bà con nông dân đối với loại thủy sản có giá trị cao này".

TẠO ĐÀ VÀ TĂNG TỐC...

Con tôm càng xanh có một vị trí quan trọng trong chiến lược nuôi trồng và khai thác thủy sản ở nước ta. Theo kế hoạch của Bộ Thủy sản đến năm 2010, cả nước sẽ phát triển 32.000 ha diện tích nuôi tôm càng xanh và đạt sản lượng 60.000 tấn, với nơi sản xuất chủ yếu là khu vực ĐBSCL. Trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thành phố Cần Thơ đang đặt ra mục tiêu xây dựng những cánh đồng 50 -80 triệu/ ha và mô hình lúa- tôm là một cách thức chủ yếu để đạt được mục tiêu ấy... Những thông số đó đã xua đi phần nào cái mệt của tôi sau gần 1 giờ lội bộ ra vuông tôm của anh Lâm Tấn Quốc ở thị trấn Thới Lai, huyện Cờ Đỏ, TP. Cần Thơ. Buổi trưa, gió từ phía bờ sông trườn qua rặng bạch đàn thổi xuống vuông tôm làm mặt nước dậy lên những tia sóng bạc lấp lánh. Sau một hồi đi kiểm tra độ phát triển của các vuông tôm, anh Võ Văn Bé Ba, Chủ nhiệm Câu lạc bộ nuôi trồng thủy sản thị trấn Thới Lai, cùng các đồng chí ở Trạm khuyến nông Cờ Đỏ mới quay về chòi nghỉ mệt. "Mấy năm trước, chỗ các vuông tôm này thường là lúa vụ 3, vụ "thất" nhất trong năm. Còn bây giờ là vụ trúng nhất đó nghen"- anh Bé Ba, tự hào.

Dáng người tầm thước và phong cách quyết đoán, Chủ nhiệm Bé Ba từng bị nhiều người xem là có những suy nghĩ "lạ đời". Cách đây không lâu, khi phong trào "con tôm ôm cây lúa" mới được phát động, bà con trong xóm không ít người hoài nghi khi anh quyết định nuôi tôm. Hay khi anh mạnh dạn thay thế con tôm giống tự nhiên bằng con bốt, nhìn vô thau nước thấy toàn những chấm li ti, nhiều người nói anh đem tiền đổ sông, đổ biển... Năm rồi năng suất bình quân của CLB là 400kg tôm/ ha, mỗi hécta người nông dân bỏ túi ít nhất 20 triệu đồng lời. Năm nay, CLB thu hút 26 hộ nuôi tôm với tổng diện tích 23,5ha, tăng hơn 3ha so với năm trước, vậy mà "ông Chủ nhiệm" vẫn chưa hài lòng. Chỉ cho tôi xem những cánh đồng trồng lúa vụ 3 nằm xen lẫn những vuông tôm, anh trầm ngâm "đáng lẽ phải tăng nhiều hơn nữa"...

Khi con tôm giống không còn là nỗi băn khoăn, việc "đưa con tôm xuống ruộng" vẫn đang đặt ra nhiều thách thức cho những cán bộ của ngành nông nghiệp. Theo kế hoạch, năm 2004 thành phố Cần Thơ sẽ phấn đấu đạt 800 ha diện tích nuôi tôm, thế nhưng kế hoạch này xem ra khó đạt khi đã cuối tháng 8 mà diện tích nuôi tôm chỉ mới tròm trèm con số 300 ha. Vì sao một kế hoạch  phục vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp được Nhà nước khuyến khích  lại chậm đạt hiệu quả như mong muốn?

Lý giải nguyên nhân của sự "thờ ơ" này, nhiều người cho rằng tình trạng thiếu vốn và "thiếu an toàn" là 2 nguyên nhân đáng lo ngại và cản bước tiến của con tôm. Anh Đoàn Hùng Anh, Phó Chủ nhiệm CLB nuôi trồng thủy sản Thới Lai phân tích: Một hécta nuôi tôm phải đầu tư khoảng 20 triệu đồng, chưa kể tiền xây dựng cơ bản để đắp bờ, cải tạo vuông. Trong khi Nhà nước khuyến khích, thì các ngân hàng Nhà nước dường như không mấy tin tưởng vào mô hình này (?!).  Điển hình là vụ tôm này, các hội viên CLB lập dự án vay tiền nuôi tôm nhưng Ngân hàng từ chối, cuối cùng các anh em phải vay tiền của một ngân hàng cổ phần tại địa phương với lãi suất cao. "Ngoài ra, do việc chuyển dịch chưa đồng bộ nên trong khi một số hộ xuống con bốt thì một số bà con chuẩn bị xuống vụ, các loại thuốc trừ sâu, thuốc diệt ốc bươu vàng gây ô nhiễm nguồn nước, ảnh hưởng nhiều đến các hộ nuôi tôm" - anh Nguyễn Ngọc Hỷ, cán bộ kỹ thuật Trạm Khuyến nông Cờ Đỏ nói.

 "Chuyển dịch chưa đồng bộ" là một thực tế thường gặp khi bắt đầu triển khai những mô hình mới, nhưng tôi cảm nhận được điều cực kỳ quan trọng này khi những người nông dân ngồi xung quanh anh không hẹn mà cùng lặng im, hướng mắt nhìn ra mặt sông lấp lóa nắng. Chỉ cần có "vấn đề", một gia đình đang tràn trề những hy vọng tương lai có thể rơi vào cảnh trắng tay, nợ nần. "Ngoài ra, công tác vận động, tuyên truyền của chính quyền địa phương chưa thật sự hiệu quả nên vẫn chưa tác động làm thay đổi cách nghĩ và cả tập quán trồng lúa của bà con nông dân" - anh Bé Ba bộc bạch. Tôi thấy mình đồng cảm với những suy nghĩ của anh, trong bước đi "hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn" mà cả nước đang phấn đấu, chỉ có xây dựng được một lực lượng nông dân có tác phong của công nhân, dám nghĩ - dám nói - dám làm và không ngừng học hỏi thì mục tiêu ấy mới thành hiện thực. Và lực lượng ấy sẽ được nhân rộng với sự quan tâm của chính quyền địa phương, với những con người có lòng tin, có tâm huyết...

 Trời mưa làm con đường ruộng trở nên khó đi, tôi và anh Hỷ xắn quần lội từ các vuông tôm ra tới đường Tỉnh lộ 923, ra chợ Thới Lai, lại hòa vào cái nhộn nhịp của không khí thị thành. Con đường lúc vô thì xa mà tới lúc trở ra thấy "cạn èo". "CLB đang chuẩn bị thành lập trại ương giống trong vụ tới và phấn đấu trong vòng 5 năm tới sẽ sản suất và kinh doanh thức ăn nuôi tôm. Nếu đầu ra vẫn ở mức như bây giờ, con tôm càng xanh sẽ là một tín hiệu lạc quan cho sự  "tăng tốc" về kinh tế. Những thành quả mà CLB đạt được sẽ là "bằng chứng" tốt nhất để thuyết phục bà con, tạo đà cho sự phát triển ngày càng sung túc của nông dân thị trấn này..."- Những dự tính của CLB làm bùng lên trong tôi ngọn lửa lạc quan. Những người nông dân tiễn tôi đi phía sau đang trêu chọc anh thanh niên tên Quốc: "Năm ngoái thằng Phước, anh thằng Quốc nuôi 5 công tôm, lời gần chục triệu đồng là cưới vợ liền. Năm nay tới mày cho anh em uống rượu nghen Quốc!". Nghe câu nói làm tất cả mọi người đều cười... Sau cơn mưa, nắng hửng lên trên những tán bạch đàn xanh mượt, chia tay đã thật lâu mà âm thanh tiếng cười lạc quan của những nông dân sản xuất tôm càng xanh vẫn vang mãi theo tôi...

HOÀNG THANH