Free Web Hosting by Netfirms
Web Hosting by Netfirms | Free Domain Names by Netfirms

Phát triển nghề cá ở Vịnh Bắc Bộ

TTXVN, 24/08/2004

 

Hiệp định hợp tác nghề cá ở Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc, vừa chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 30/6. Ý nghĩa và việc triển khai thực hiện hiệp định này, P.V: báo Nhân dân đã có cuộc phỏng vấn Bộ trưởng Bộ Thuỷ sản Tạ Quang Ngọc. Sau đây là nội dung cuộc phỏng vấn.

P.V: Xin Bộ trưởng cho biết ý nghĩa, tầm quan trọng của việc ký kết Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định hợp tác nghề cá ở Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Bộ trưởng Tạ Quang Ngọc: Hiệp định Hợp tác nghề cá Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc (gọi tắt là Hiệp định hợp tác nghề cá) được ký cùng với Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ giữa hai nước ngày 25/12/2000 tại Bắc Kinh, Trung Quốc. Nghị định thư bổ sung Hiệp định hợp tác nghề cá được tiến hành đàm phán ngay sau đó (tháng 4/2001), kết thúc đàm phán và đi đến ký kết chính thức ngày 29/4/2004 . Việc ký kết Nghị định thư bổ sung này tạo điều kiện để hai nước tiến hành các thủ tục đi đến hoàn tất việc phê chuẩn Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ và phê duyệt Hiệp định hợp tác nghề cá. Ngày 30/6/2004 vừa qua, Bộ Ngoại giao hai nước ký biên bản trao đổi các văn kiện phê chuẩn Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ và Công hàm thông báo Chính phủ hai nước đã phê duyệt Hiệp định hợp tác nghề cá. Cả hai hiệp định chính thức có hiệu lực từ ngày 30/6/2004 .

Việc đàm phán, ký kết và đưa vào hiệu lực Hiệp định hợp tác nghề cá cùng với Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc là một sự kiện quan trọng đối với mỗi nước, cũng như trong quan hệ Việt-Trung. Với sự kiện này, ranh giới trong vùng Vịnh Bắc Bộ giữa hai nước được phân định; bảo đảm chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của mỗi nước trên các vùng lãnh hải, cùng đặc quyền kinh tế và vùng thềm lục địa của mình.

Việc thực thi hai hiệp định tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý, duy trì ổn định lâu dài trong vùng Vịnh Bắc Bộ, góp phần tăng cường tin cậy lẫn nhau, tạo động lực thúc đẩy phát triển tình hữu nghị và sự hợp tác mọi mặt giữa hai nước, trong đó có thủy sản.

P.V: Xin Bộ trưởng cho biết những nội dung cơ bản về việc triển khai Hiệp định; trong đó có trách nhiệm của ngành thủy sản; của ngư dân trong việc kiểm tra, giám sát và thi hành Hiệp định?

Bộ trưởng: Trước hết cần hiểu rằng, Hiệp định hợp tác nghề cá là một hiệp định kinh tế-kỹ thuật, quy định rõ hình thức, nội dung và thời hạn hợp tác nghề cá trong Vịnh Bắc Bộ sau khi Hiệp định có hiệu lực. Hợp tác nghề cá trong vùng nước Hiệp định của hai bên được thiết lập trên cơ sở tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của nhau. Việc hợp tác nghề cá như quy định trong Hiệp định hợp tác nghề cá không ảnh hưởng đến chủ quyền lãnh hải của mỗi nước và các quyền lợi khác của mỗi bên ký kết được hưởng trong vùng đặc quyền kinh tế của mình.

Hiệp định hợp tác nghề cá gồm 7 phần, có 22 điều và một phụ lục. Nghị định thư bổ sung gồm phần mở đầu và 8 điều quy định bổ sung và làm rõ một số quy định trong Hiệp định hợp tác nghề cá.

Nội dung chính của Hiệp định hợp tác nghề cá là thiết lập vùng đánh cá chung có thời hạn, nơi hoạt động đánh bắt hải sản của mỗi bên được tiến hành theo quy định của Ủy ban liên hợp nghề cá Việt Trung đối với vùng đánh cá chung, vị trí, phạm vi cũng như thời hạn hiệu lực của vùng này được quy định trong văn bản Hiệp định. Số lượng tàu cá, cơ cấu nghề nghiệp và công suất máy tàu được quy định trong Nghị định thư bổ sung. Hai bên cũng đã thỏa thuận được một số quy chế quản lý và bảo tồn nguồn lợi thủy sản trong vùng này; việc tổ chức điều tra nguồn lợi thủy sản để xác định khả năng đánh bắt cho phép để xác định lại số tàu đánh bắt trong vùng đánh cá chung cũng được quy định đầy đủ.

Tại vùng đánh cá chung: Quyền kiểm tra và kiểm soát của mỗi nước được thực hiện đối với vùng đặc quyền kinh tế của mình; số lượng tàu, thuyền vào đánh bắt được xác định theo nguyên tắc công bằng (số lượng tối đa bằng nhau, cơ cấu nghề nghiệp như nhau) và căn cứ chủ yếu vào sản luợng đánh bắt được phép, thông qua điều tra liên hợp định kỳ. Trong khuôn khổ quy mô đánh bắt có được, mỗi bên đều được quyền liên doanh hợp tác đánh cá với bên thứ ba trong vùng đánh cá chung thuộc vùng biển của mình.

Hiệp định cũng quy định một "vùng dàn xếp quá độ" trong 4 năm, nằm ở phía Bắc vĩ tuyến 20 độ Bắc về hai phía của đường phân định: Trong vùng dàn xếp quá độ, tàu cá của mỗi bên được hoạt động tại mọi nơi, với số lượng ban đầu được xác định và giảm dần hàng năm cho đến khl vùng dàn xếp quá độ hết thời hạn hiệu lực. Độ lớn, vị trí của vùng dàn xếp quá độ cũng như số lượng tàu cá ban đầu của mỗi bên đuợc quy định cụ thể trong Nghị định thư bổ sung.

Ngoài ra, trong Hiệp định hợp tác nghề cá Vịnh Bắc Bộ, hai bên còn thỏa thuận một vùng đệm nhỏ chạy dọc hai phía đường phân định từ ngoài cửa sông Bắc Luân với chlều dài 10 hải lý và rộng 6 hảl lý (mỗi phía ba hải lý từ đường phân định). Sự tồn tại của vùng này là để tạo thuận lợi cho tàu nhỏ của hai bên ra vào cửa sông.

Với những nội dung chủ yếu trên, việc triển khai các hoạt động khai thác hải sản, quản lý hoạt động thủy sản trên biển có khối lượng công việc khá lớn và nhiều vấn đề mới mẻ trong quản lý so với công việc hiện nay đã làm. Đặc điểm mới nổi bật nhất là phải xây dựng được một phương thức quản lý, kiểm tra, kiểm soát phù hợp các yêu cầu quy định như trong Hiệp định, nhất là tại các vùng nước Hiệp định. Mặt khác, phải tạo dựng một nghề cá xa bờ có hiệu quả trên cơ sở môi trường chính sách hợp lý, thật sự chuyển dịch cơ cấu, để có nghề cá biển hợp lý hơn cho phát triển sản xuất, nâng cao mức sống và thu nhập cho ngư dân.

Bộ Thủy sản đã xây dựng đề án cụ thể, các công việc triển khai Hiệp định phù hợp các yêu cầu nêu trên, đồng thời có những hướng dẫn tuyên truyền kịp thời để ngư dân phát triển sản xuất, tuân thủ những điều ký kết trong hiệp định, giữ gìn và phát triển quan hệ hữu nghị giữa ngư dân hai nước. Việc triển khai Hiệp định cũng vào thời điểm Luật Thủy sản có hiệu lực ( 1/7/2004 ). Các nội dung phát triển sản xuất trên biển gắn với bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản trong các vùng nước Hiệp định cần được lồng ghép thống nhất với đề án về triển khai Hiệp định hợp tác nghề cá.

P.V: Xin Bộ trưởng cho biết những công việc cần thực hiện trong tổ chức phát triển khai thác hải sản xa bờ?

Bộ trưởng: Đây là một việc rất lớn, liên quan đến chuyển dịch cơ cấu, khai thác sử dụng nguồn lợi hải sản đi đôi với bảo vệ và tái tạo nguồn lợi. Đây cũng là một việc rất khó vì lâu nay chúng ta đã cố gắng nhưng chưa làm được nhiều (ngoại trừ hơn 6.000 tàu lắp máy với công suất từ 90CV trở lên được thực hiện từ năm 1997 đến nay).

Hiệp định hợp tác nghề cá có hiệu lực đặt ra những vấn đề lớn trong quá trình phát triển nghề cá xa bờ. Nghề cá nước ta với truyền thống lâu đời dựa trên nguồn lợi ven bờ là chủ yếu. Tàu, thuyền, công nghệ và ngư cụ thích ứng với nghề cá phân tán, đa loài, nhưng luôn ở quy mô nhỏ, hoạt động ít ngày. Việc phát triển nghề cá xa bờ cũng là tổ chức lại để giảm đi tính chất thủ công, đa loài, tạo quy mô lớn hơn, không những về tàu thuyền mà cả về khả năng tổ chức, khai thác đi đôi với hậu cần dịch vụ, hệ thống cơ sở hạ tầng  bảo đảm khả năng đánh bắt nhiều ngày, có điều kiện áp dụng công nghệ tiên tiến trong thăm dò, dự báo và tổ chức khai thác, đồng thời có tổ chức dịch vụ hậu cần, bảo quản chế biến trên biển, bảo đảm yêu cầu sản xuất hàng hoá, nâng cao giá trị sản phẩm, giảm thất thoát sau thu hoạch.

Trên cơ sở tổng kết lại những việc đã làm và chưa làm được từ trước tới nay, Bộ Thuỷ sản đang trình Chính phủ đề án phát triển khai thác thuỷ hải sản xa bờ, đáp ứng yêu cầu mới về phát triển sản xuất thuỷ sản theo hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành thuỷ sản hiện nay để hội nhập vì một nghề cá có trách nhiệm, bảo đảm phát triển bền vững./.

Xin cảm ơn ông!