Free Web Hosting by Netfirms
Web Hosting by Netfirms | Free Domain Names by Netfirms

Thủy sản Bình Thuận: Khai thác nhiều - xuất khẩu ít

SGGP, 17/8/2004

 

Bình Thuận là một trong 3 ngư trường lớn nhất của Việt Nam, nhưng năm 2003 kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Bình Thuận chỉ đạt trên 30 triệu USD, đứng thứ 14 trong cả nước. Làm thế nào để Bình Thuận vươn lên vị trí xuất khẩu thủy sản xứng với tiềm năng sẵn có?

Chủ yếu là bán nguyên liệu thô

Vùng biển Bình Thuận rộng trên 52.000km2, là nơi hội tụ nhiều yếu tố tự nhiên, đặc biệt là nơi gặp nhau của 2 dòng hải lưu nóng, lạnh đóng vai trò quan trọng cho sự phát triển và làm giàu nguồn lợi hải sản. Thêm vào đó, lượng tàu đánh bắt hải sản của Bình Thuận cũng rất lớn, hiện toàn tỉnh có trên 5.200 tàu đánh cá với tổng công suất gần 200.000 CV.

Do đó, Bình Thuận luôn là một trong những tỉnh dẫn đầu về khai thác các nguồn hải sản, tổng lượng hải sản được đáng bắt trung bình hàng năm lên tới 150.000 tấn, chiếm trên 10% tổng sản lượng khai thác của cả nước. Với khả năng và sản lượng đánh bắt hải sản nhưng vậy, Bình Thuận luôn được xếp vào “chiếu trên” so với các tỉnh ven biển trong cả nước.

Đó là chưa kể đến hàng chục ngàn hécta bãi triều ngập mặn cùng nhiều vịnh lớn nhỏ đã giúp tỉnh phát triển ngành nuôi trồng thủy sản. Mặc dù đánh bắt và nuôi trồng thủy sản được nhiều, song kim ngạch xuất khẩu thủy sản của tỉnh vẫn rất “lẹt đẹt” và được xếp vào hạng “tốp dưới” so với các địa phương khác. Kim ngạch xuất khẩu hải sản của toàn tỉnh hàng năm chưa đến 30 triệu USD chỉ chiếm chưa đến 2% của cả nước.

Theo lý giải của ngành thủy sản Bình Thuận, do lâu nay tỉnh chỉ chú ý vào khai thác, bán nguyên liệu thô mà không tập trung vào chế biến để xuất khẩu trực tiếp. Ngay như trong 6 tháng đầu năm 2004, khối lượng thành phẩm chế biến và doanh số bán hàng của các doanh nghiệp đều tăng cao nhưng kim ngạch xuất khẩu trực tiếp lại thấp hơn so với cùng kỳ năm ngoái.

Ông La Châu Chinh, Phó Giám đốc Sở Thủy Sản tỉnh Bình Thuận cho biết, toàn tỉnh hiện có 69 doanh nghiệp chế biến thủy sản với 90% là của tư nhân. Phần lớn các doanh nghiệp này do nhu cầu ngoại tệ không cao, nên chỉ thu mua, sơ chế và bán hàng cho các doanh nghiệp ở TPHCM mà ít tham gia xuất khẩu trực tiếp. Bên cạnh đó, hầu hết các doanh nghiệp chế biến đều sản xuất ở qui mô nhỏ, sức cạnh tranh yếu và chưa được công nhận đạt tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm… nên không thể tự tìm thị trường để xuất khẩu trực tiếp.

Cần một lời giải đúng

Những năm qua tỉnh Bình Thuận đã triển khai nhiều phương án phấn đấu năm 2005 kim ngạch xuất khẩu của tỉnh phải đạt được con số 70 triệu USD. Để chuẩn bị cho việc này, UBND tỉnh đã lập dự án xây dựng khu chế biến thủy sản Nam Phan Thiết, được xác định là công trình trọng điểm, dự kiến hoàn thành trong năm 2004 với tổng mức đầu tư gần 57 tỷ đồng, trên diện tích 27 ha. Đây được xem là một giải pháp trọng tâm của ngành thủy sản nhằm chuyển dịch tỷ trọng từ khai thác sang chế biến để nâng cao kim ngạch xuất khẩu.

Tuy nhiên, vì nhiều lý do chủ quan và khách quan, đến nay dự án này vẫn chưa phát huy. Một lý do khác mà khá nhiều doanh nghiệp chế biến hải sản đang bức xúc là hiện ở Bình Thuận chưa có cảng vụ hải quan. Mọi hoạt động xuất khẩu đều phụ thuộc vào TPHCM hoặc Đồng Nai. Do đó không ít doanh nghiệp chế biến vẫn thu mua và sản xuất “cầm chừng”.

Ông Nguyễn Văn Hiến, chủ một doanh nghiệp chế biến có mức doanh thu từ xuất khẩu hải sản hàng năm khoảng vài chục tỷ đồng cho biết, mặc dù sản phẩm của ông đã có uy tín đối với thị trường Nhật Bản, Đài Loan... nhưng hiện ông vẫn chưa thể mở rộng qui mô sản xuất vì không có mặt bằng, mọi việc phải thông qua các tỉnh khác nên giá thành tăng do chi phí vận chuyển. Vì thế, hiện ông đang hướng vào mở rộng thị trường trong nước.

Thực tế cho thấy, bài toán tăng hay không tăng kim ngạch xuất khẩu thủy sản tại Bình Thuận không phải là vấn đề cốt yếu. Bởi hiện nay nếu muốn tăng xuất khẩu trực tiếp, tỉnh phải có đầu tư cơ sở hạ tầng cho chế biến và xuất khẩu... Đồng thời phải có cơ chế hỗ trợ nhằm hạn chế rủi ro và kích thích các doanh nghiệp tăng cường chế biến xuất khẩu.

Còn nếu để các doanh nghiệp bán nguyên liệu cho các địa phương khác, nghĩa là xuất khẩu gián tiếp thì ngoại tệ mạnh được chuyển sang các địa phương khác (nhìn tổng thể thì vẫn thu về cho quốc gia) nhưng tỉnh lại có thêm phần lợi thu được từ thuế VAT.

Tuy nhiên, với cách này vô hình chung sẽ tạo ra thói quen làm ăn nhỏ lẻ, thiếu sức cạnh tranh và sẽ hoàn toàn phụ thuộc và các doanh nghiệp thu mua, chế biến và xuất khẩu. Chỉ khi nào giải quyết một cách thỏa đáng các vấn đề trên, ngành thủy sản Bình Thuận mới có thể phát triển một cách toàn diện.

CHIẾN DŨNG – LÊ HIỀN