|
|
|
Tôm Việt Nam sẽ gặp khó tại Mỹ
VNECONOMY, 30/07/2004
Bộ Thương mại Mỹ (DOC) đêm qua (29/7) đã công bố mức thuế chống bán phá giá tôm đối với 4 nước còn lại trong vụ kiện là Brazil, Ecuador, Ấn Độ và Thái Lan. Theo đó, trừ Brazil, mức thuế đối với 3 nước kia đều thấp hơn Việt Nam. Đây là bất lợi rất lớn đối với các doanh nghiệp tôm Việt Nam xuất khẩu vào thị trường Mỹ.
Cụ thể mức thuế suất với Ecuador là 6,08-9,35%; với Ấn Độ là 3,56-27,49%, với Thái Lan là 5,56-10,25%. Đối với Brazil, mức thuế cao nhất là 67,8%, thấp nhất là 8,41%. Riêng một công ty của Brazil được xác định là không bán phá giá. Theo phán quyết của DOC, các nhà sản xuất của 4 quốc gia nói trên đã bán phá giá các sản phẩm tôm đông lạnh và tôm nước ấm đóng hộp vào thị trường Mỹ.
Tôm sú là mặt hàng chủ lực của Việt Nam tại thị trường Mỹ. Đối thủ trực tiếp là Ấn Độ và Thái Lan. Như vậy, việc hai nước này được áp mức thuế chống bán phá giá thấp là một khó khăn lớn đối với Việt Nam. Đồng thời, nhiều khả năng các nước còn lại cũng sẽ tăng cường giành thị phần mặt hàng tôm sú của Việt Nam do có lợi thế về giá.
Ngày 7/7, DOC đã ra phán quyết sơ bộ áp mức thuế chống bán phá giá đối với các doanh nghiệp Việt Nam với biên độ thuế riêng biệt cho 4 doanh nghiệp bị đơn bắt buộc (Minh Phú, Kim Anh, Minh Hải và Camimex) từ 12,11% đến 19,60%, biên độ thuế trung bình 16,01% cho 17 doanh nghiệp bị đơn tự nguyện và mức thuế 93,13% cho tất cả các doanh nghiệp khác. Cũng theo phán quyết này, Trung Quốc sẽ chịu mức thuế từ 0 – 112%. Tuy nhiên mức thuế trung bình phá giá của Trung Quốc là 49%.
Về tình trạnh khẩn cấp, DOC đã quyết định rằng có đủ bằng chứng để đảm bảo rằng tình trạng khẩn cấp có tồn tại đối với hàng nhập khẩu được sản xuất và xuất khẩu bởi Công ty Hindustan Lever Limited (Ấn Độ). Đối với tôm nhập khẩu từ Thái Lan, DOC đã quyết định sơ bộ rằng vào thời điểm này không có đủ bằng chứng để đưa ra quyết định rằng tình trạng khẩn cấp có tồn tại. DOC sẽ tiếp tục xem xét lại và cân nhắc các thông tin và các bản đệ trình của các bên liên quan về vấn đề này và sẽ đưa ra một quyết định được xem như là một phần của quyết định cuối cùng trong các trường hợp này.
Sau khi có phán quyết sơ bộ, các bên liên quan sẽ được mời đệ trình bản bình luận về quyết định sơ bộ. DOC sẽ xem xét tất cả các bản bình luận được đệ trình cùng với bằng chứng thu thập được trước khi đưa ra quyết định cuối cùng vào khoảng ngày 17/12/2004.
Nếu DOC đưa ra quyết định cuối cùng là có phá giá trong cuộc điều tra này, Uỷ Ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ (ITC) sẽ có kế hoạch đưa ra quyết định về gây thiệt hại cuối cùng của mình vào khoảng ngày 31/1/2005. Nếu ITC đưa ra quyết định cuối cùng là hàng nhập khẩu gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại đối với ngành công nghiệp trong nước, DOC sẽ ban hành lệnh áp thuế chống bán phá giá và sẽ hướng dẫn Hải quan thu khoản ký quỹ bằng tiền mặt đối với hàng nhập khẩu của mặt hàng bị cho là bán phá giá.
Mức thuế chống bán phá giá tôm sơ bộ của 4 nước:
|
Brazil |
|
| Công ty Empresa de Armazenagem Frigorifica Ltda. (EMPAF) | 0% |
| Công ty Central de Industrializacao e Distribuicao de Alimentos Ltda. (CIDA) | 8,41% |
| Công ty Norte Pesca S.A | 67,8% |
| Các công ty khác | 36,91% |
|
Ecuador |
|
| Công ty Exporklore S.A | 9,35% |
| Công ty Exportadora De Alimenos S.A. (Expalsa) | 6,08% |
| Công ty Promarisco S.A. | 6,77% |
| Các công ty khác | 7,3% |
|
Ấn Độ |
|
| Công ty Hindustan Lever Limited (HLL) | 27,49% |
| Công ty Devi Sea Foods Ltd. (Devi) | 3,56% |
| Công ty Nekkanti Seafoods Limited (Nekkanti) | 9,16% |
| Các công ty khác | 14,2% |
|
Thái Lan |
|
| Công ty Andaman Seafood, Công ty Chanthaburi Seafoods, và Công ty Thailand Fishery Cold Storage Public (collectively Rubicon Group) | 5,56% |
| Công ty Thai I-Mei Frozen Foods Co., Ltd., (Thai-I-Mei) | 5,91% |
| Công ty the Union Frozen Products Co., Ltd. (UFP) | 10,25% |
| Các công ty khác | 6,39% |
Nguyễn Hoàng