|
|
|
Từ kinh nghiệm nuôi tôm của người Thái Lan: Nghĩ về nuôi tôm ở Đồng bằng sông Cửu Long
BCT, 27/7/2004
Từ trước đến nay có nhiều thông tin về nghề nuôi tôm ở Thái Lan, thành công có, thất bại có, nhưng phần lớn là tin đồn người Thái Lan nuôi tôm đạt năng suất 5 - 10 tấn trên một mẫu (ha). Những tin đồn này tác động mạnh đến xu hướng nuôi tôm công nghiệp ở Đồng bằng sông Cửu Long.
Tôi được tổ chức Oxfam và Trường Đại học Cần Thơ mời đi tham quan một số vùng nuôi tôm, cá và một số mô hình bảo vệ đa dạng sinh học ở vùng ven biển Thái Lan.
Bắt đầu được bạn hướng dẫn đi tham quan vùng nuôi tôm cá ở vùng nông thôn ven biển của thành phố Bangkok, nơi đầu tiên người dân bắt đầu nuôi tôm tự nhiên (1988 - 1992) nuôi tự nhiên có đầu tư (1992 -1993) và đến năm 1994 nuôi công nghiệp đại trà. Nòng cốt của phong trào nuôi tôm công nghiệp này là số người giàu ở Bangkok đổ ra vùng này mướn đất để nuôi tôm, trong đó có một số công ty (có công ty Đài Loan) sản xuất thức ăn tôm và dịch vụ nuôi tôm, họ đầu tư nuôi một số mô hình để kích thích mở rộng diện nuôi tôm vùng này nhằm dịch vụ và bán thức ăn tôm, điển hình là Công ty C.P sản xuất thức ăn của Thái Lan; công ty này đang chuyển sang hoạt động mạnh ở Việt Nam (chủ yếu là ở Đồng bằng sông Cửu Long).
Đến năm 1994 nuôi tôm công nghiệp đại trà, môi trường vùng ven biển này bị ô nhiễm nặng, dịch bệnh phát triển, tôm chết hàng loạt, người nuôi tôm tiếp tục lấn sâu xuống vùng ven biển miền Nam Thái Lan hàng trăm km để nuôi tôm, thậm chí một số người giàu Thái Lan có tay nghề đã sang Đồng bằng sông Cửu Long (Việt Nam) để thuê đất nuôi tôm (Kiên Giang). Phát biểu có tính kết luận của một anh nông dân có tay nghề nuôi tôm ở vùng này:
- Đất chết (do nuôi tôm công nghiệp làm ô nhiễm môi trường).
- Người (giàu) thuê đất nuôi tôm, không sao, họ lấn sâu vào nội địa Thái Lan đầu tư nuôi tôm và tiếp tục làm giàu.
- Nông dân cho mướn đất nuôi tôm, nay chết dở, sống dở, nợ nần chồng chất. Đại bộ phận bỏ nông thôn đi vào các đô thị kiếm sống, chỉ còn khoảng 10% nông dân bám lại. Cộng đồng bám lại này đang chịu khổ, sản xuất khó khăn, do môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng.
Thời kỳ cao điểm nuôi tôm ở vùng này, diện tích nuôi tôm lên đến khoảng 50.000 ray (một ray Thái Lan 1.600 m2). Tổng thu nhập từ nuôi tôm: 160 tỉ bạt (tiền Thái Lan, tỷ giá 1 bạt: 385,02 đồng Việt Nam) hậu quả như sau:
+ 80% thu nhập về túi người làm dịch vụ, trong đó đại bộ phận là lợi nhuận của các công ty dịch vụ và bán thức ăn.
+ 20% thu nhập là người nông dân, đổi lấy hậu quả là vùng đất chết.
+ Nhiều vấn đề xã hội phát sinh phức tạp, Chính phủ Thái Lan đang có kế hoạch giải quyết, phải đầu tư gấp nhiều lần hơn thu nhập từ nuôi tôm để khôi phục lại vùng này.
+ Người nuôi tôm (giàu) đang lấn sâu vào vùng ven biển nội địa Thái Lan để tiếp tục đầu tư nuôi tôm, tạo ra vùng đất chết mới, có khả năng lên đến 350.000 ray.
Để tìm hiểu toàn diện hơn hiện trạng nuôi tôm ở Thái Lan, đoàn chúng tôi phải hơn một giờ bay (hàng không nội địa của Thái) đến hồ SongKhla, điểm nuôi tôm lớn thứ hai vùng ven biển. Hồ này rộng 9.800 ha, trước đây là một vùng trồng lúa năng suất cao và vùng cá nước ngọt lớn của miền Nam Thái Lan, đời sống của nông dân ổn định, nhờ trồng lúa hai vụ và đánh bắt cá.
Từ nuôi tôm ở ven biển ngoại ô Bangkok không còn hiệu quả nữa, số người giàu, trong đó có cả hai tập đoàn công ty thức ăn Thái và Đài Loan tràn về đây khai thác vùng đất mới còn nhiều tiềm năng này để thuê đất nuôi tôm và dịch vụ nuôi tôm. Trong những năm đầu nuôi tôm ở đây đạt năng suất từ 5 đến 8 tấn/ha, đời sống kinh tế phất lên rất nhanh, người nông dân do nuôi tôm đạt siêu lợi nhuận và tiền cho thuê đất nuôi tôm cao, đời sống phát triển đột biến, ăn chơi xa xỉ. Từ đó các công ty du lịch tràn về vùng này xây dựng nhiều nhà hàng kinh doanh và theo đó gái mại dâm cũng tràn về kiếm sống, tệ nạn ăn chơi, HIV/AIDS thâm nhập và phát triển rất nhanh, vào một vùng nông thôn trước đây có tiếng là thiên nhiên trong lành, môi trường xã hội ổn định.
Đi ôtô gần 40 km trên đường, chúng tôi thấy hàng trăm ao nuôi tôm bỏ không, quạt nước ngừng chạy, hệ thống bơm nước không hoạt động, nước trong ao và kinh mương xung quanh đều bị ô nhiễm, ruộng lúa bị nhiễm mặn không phát triển được, cây ăn trái xuống màu, đến cây Thốt Nốt có sức sống mạnh nhất, nhiều chỗ cũng bắt đầu chết, gần đúng là một vùng đất chết như một anh nông dân Thái Lan nói với đoàn chúng tôi.
Để quan sát tìm hiểu phần nào về kinh tế, môi trường và xã hội của vùng nông thôn ven biển này, đoàn chúng tôi đã ghé thăm hai hộ nông dân còn nuôi tôm, một điểm tập trung nhà hàng du lịch, đi thuyền máy trên hồ SongKhla để xem nguồn nước và làm việc với một nhóm nông dân làm nghề cá. Các nhà hàng đều bỏ trống gần như hoang phế, vì nước bị ô nhiễm, khách du lịch không còn đến vùng này nữa. Hai hộ còn nuôi tôm qua ngày, vì không biết phải làm nghề gì khác, tâm tư của hai nông dân: trước đây công ty thức ăn Đài Loan tất cả đều dịch vụ cho chúng tôi, nay họ bỏ chúng tôi. Còn nhóm nghề cá cho biết hồ SongKhla trước đây có khoảng 700 loài cá, nay mất đi khoảng 600 loài, đúng như những người nông dân này nói, chúng tôi đi bằng thuyền máy gần 2km trên hồ, nước hồ bị ô nhiễm, phần lớn diện tích lòng hồ bị cạn, rong rêu dày đặc, các loài cá khó có thể sống và sinh sản. Người nông dân vùng này đang tổ chức để trồng cây và thả lại cá để bảo tồn đa dạng sinh học vùng hồ.
Để thăm dò ý kiến những nhà khoa học, chúng tôi tranh thủ làm việc với một tổ chức phi Chính phủ của Thái Lan và Trường Đại học SongKhla. Các nhà khoa học đã phân tích khá sâu sắc hậu quả của môi trường nuôi tôm hồ SongKhla, từ môi trường ô nhiễm đã dẫn đến hậu quả về kinh tế và xã hội và từ vấn đề kinh tế và đời sống xã hội sa sút đã dẫn đến vấn đề chính trị; người trồng lúa và nuôi tôm mâu thuẫn nhau, xảy ra liên tiếp nhiều cuộc hội họp, biểu tình của sư sãi và nông dân, yêu cầu Chính phủ đầu tư khôi phục lại môi trường sống của vùng hồ SongKhla. Thủ tướng Thái Lan đã xuống gặp dân và hứa sẽ đầu tư nạo vét lòng hồ, trồng lại cây phòng hộ, tổ chức lại sản xuất để khôi phục sản xuất và đời sống nông dân. Nhưng theo các nhà khoa học thì việc làm này rất khó khăn, dù phải đầu tư hơn nhiều lần so với tổng thu nhập từ nuôi tôm, vì phải khôi phục lại cả một hệ thống kinh tế, môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. Theo ý kiến của một tiến sĩ Trường Đại học SongKhla; con đường cơ bản và lâu dài, Thái Lan phải chuyển đổi từ một nền nông nghiệp hóa chất (cả nuôi trồng thủy sản) thành một nền nông nghiệp sinh học.
Người nông dân Thái Lan rất cần cù và chất phác, các nhà khoa học Thái rất chân tình và thẳng thắn khoa học, đã giúp cho chúng tôi nhiều thông tin có lợi cho nghiên cứu khoa học. Đoàn chúng tôi chân thành cảm ơn những người nông dân và các nhà khoa học Thái Lan chân tình và mến khách.
Tham quan Thái Lan ngắn ngày, hiểu biết Thái Lan còn ít, chúng tôi bước đầu có suy xét và cảm nhận được: nuôi tôm của Đồng bằng sông Cửu Long, cũng như cả nước mang nặng tự phát như con đường nuôi tôm tự phát của nông dân Thái Lan đã đi, hậu quả về kinh tế - xã hội cũng đang bắt đầu theo xu hướng đó, như phá rừng để nuôi tôm (phổ biến ở Đồng bằng sông Cửu Long...), dân phá hệ thống cống ngăn mặn để nuôi tôm (Cà Mau, Sóc Trăng, Bạc Liêu), nguy cơ cạn kiệt và ô nhiễm nguồn nước ngầm để nuôi tôm trên cát (vùng ven biển miền Trung từ Quảng Bình đến Ninh Thuận) có thể phổ biến của cả nước là chạy đua đầu tư nuôi tôm công nghiệp, coi đây là bước đột phá trong chuyển cơ cấu sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn, theo đó ô nhiễm môi trường cũng đã bắt đầu phát triển và diện ngày càng rộng, tôm bệnh và chết hàng loạt ở đầu năm 2004. Tuy nhiên cũng đã xuất hiện nhiều nhân tố đáng mừng: Tại Quảng Ngãi đã tổ chức hội thảo khoa học “Nuôi tôm trên cát: Các vấn đề môi trường và giải pháp” để cảnh báo cho người dân và các nhà quản lý. Tỉnh Bạc Liêu, Tỉnh ủy và UBND tỉnh mời các nhà khoa học tổ chức hội thảo: Tìm ra con đường nuôi tôm bền vững. Đặc biệt ở Cà Mau đã tổ chức nuôi tôm sinh thái trong rừng ngập mặn, sản phẩm tôm sinh thái hiện rất được thị trường Thụy Sĩ ưa chuộng, năm 2003 Cà Mau đã xuất ra thị trường này hơn 30 tấn tôm sinh thái với giá xuất khẩu cao hơn tôm thường 20% (theo tạp chí Khoa học và Tổ quốc). Đây là nhân tố mở màn cho xu hướng nuôi tôm bền vững.
Ở Việt Nam, cũng như Đồng bằng sông Cửu Long Chính phủ và lãnh đạo các địa phương đã phát hiện tình hình nuôi tôm không bền vững do ô nhiễm môi trường, đã có kế hoạch hoặc ít nhất cũng đang có dự kiến chuyển hướng, nhưng trong tư duy chuyển hướng đó chưa dứt khoát chuyển từ nuôi tôm công nghiệp sang nuôi tôm với cơ cấu sinh thái hợp lý và có đầu tư (như tôm sinh thái rừng, tôm + lúa, tôm + lúa + cá..v..v...) nếu chỉ thấy đầu tư thủy lợi phục vụ nuôi tôm công nghiệp thì chưa đủ, vì con tôm rất mẫn cảm với môi trường sống (tại chỗ) theo như tổng kết kinh nghiệm của quá trình nuôi tôm ở Thái Lan và Việt Nam: con tôm sống và phát triển không phải chỉ có ăn, mà phải còn nhu cầu dưỡng khí, nhiệt độ thích hợp, sử dụng tổng hợp các chất khoáng vi lượng trong đất để lột vỏ và sinh trưởng. Môi trường ở ao nuôi chất độc tích lũy, ô nhiễm nặng, các điều kiện sống không đủ hoặc bị mất đi, con tôm không thể mạnh khỏe và tồn tại.
Nông dân nuôi tôm ở Đồng bằng sông Cửu Long rất năng động và nhiều tiềm năng sáng tạo, nhưng do chưa đủ kiến thức cơ bản, đã trở thành bất cập và lẩn quẩn trong nuôi tôm, như dùng quá nhiều kháng sinh trong xử lý môi trường nước, ngừa và trị bệnh cho tôm, vô tình đã diệt hết vi khuẩn có lợi. Với mật độ nuôi công nghiệp 50 - 60 con giống trên một thước khối nước (m3), quá trình tôm thải phân, thức ăn dư thừa (5 - 6 tấn ha/vụ) không còn vi khuẩn ăn và chuyển hóa, chất thải trở thành chất độc. Môi trường ô nhiễm, tôm bệnh, lại sử dụng kháng sinh, tiếp tục diệt vi khuẩn có lợi. Như vậy nuôi công nghiệp với mật độ 50 - 60 trên một thước khối làm cho ao nuôi ô nhiễm ngày càng cao, tôm bệnh và tôm chết hàng loạt là điều tất nhiên.
Chúng tôi có đề xuất: trong lúc Việt Nam và thế giới chưa tìm ra được công nghệ sinh học trong nuôi tôm công nghiệp bền vững, thì con đường nuôi tôm sinh thái có đầu tư hợp lý) có thể sẽ là con đường nuôi tôm bền vững; bền vững cả trong sản xuất và cạnh tranh phát triển. Nuôi tôm công nghiệp không loại trừ, nhưng phải có tổng kết thực tiễn và nghiên cứu khoa học nghiêm túc, để có bước đi vững chắc, có công nghệ phù hợp với điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
TRẦN VĂN TƯ
(Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội KH&KT TP Cần Thơ)