|
|
|
Hiệu quả từ “thân thiện” với môi trường - Nuôi trồng thủy sản nhằm mục tiêu phát triển bền vững
Thời báo Kinh tế Việt Nam, 15/7/2004
Sau 3 năm thực hiện, Dự án VIE/97/030/01/NEX – “Quản lý môi trường nuôi trồng thủy sản ven biển” đã bước đầu đem lại những kinh nghiệm quý cho ngành thủy sản Việt Nam trong mục tiêu hướng tới phát triển sản xuất bền vững. Chỉ có “thân thiện” với môi trường, cải biến môi trường thì mới có thể có hiệu quả trong nuôi trồng thủy sản, đó là đúc rút lớn nhất từ thành công của DA này.
Nhờ sự phối hợp hoạt động của Sở thủy sản và DA nuôi trồng thủy sản (NTTS) ở Quỳnh Bảng (Nghệ An) đã tăng trưởng vượt bậc: từ 20% số hộ thành công vào năm 2001 lên 69% vào năm 2002 và 73% vào năm 2003; số hộ thất bại giảm từ 60% xuống còn 8%; lãi trung bình của mỗi hộ NTTS đạt tới 35 triệu đồng vào năm 2003.
DA VIE/97/030/01/NEX hướng tới 3 mục tiêu cụ thể: cải tiến các hệ thống quản lý môi trường NTTS ven biển thích hợp cho vùng Bắc Trung Bộ; hỗ trợ các cơ quan chức năng của các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ xây dựng quy hoạch phát triển NTTS ven biển và các hướng dẫn quản lý môi trường; nâng cao năng lực quản lý môi trường cho các cán bộ quản lý, cán bộ khuyến ngư và cộng đồng người dân ven biển Bắc Trung Bộ. Đích cuối cùng mà DA nhắm đến, có thể nói chính là ý thức của người NTTS trong việc tham gia quản lý và bảo vệ môi trường, “thân thiện” với môi trường để môi trường trở nên tốt hơn, quay trở lại phục vụ sản xuất của con người.
Theo đánh giá của Bộ thủy sản, “việc thực hiện DA đã góp phần thực hiện các mục tiêu của Chính phủ như xoá đói giảm nghèo cho cộng đồng dân cư vùng ven biển, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập thông qua phát triển NTTS song song với việc bảo vệ môi trường và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên ven biển”...
Đến nay, DA đã trang bị phòng thí nghiệm nghiên cứu môi trường và dịch bệnh cơ bản ở Cửa Lò và 3 phòng thí nghiệm khác ở Thanh Hoá, Nghệ An, Thừa Thiên – Huế. Các thiết bị thí nghiệm đã được sử dụng hiệu quả, góp phần hỗ trợ các địa phương trong việc triển khai quan trắc môi trường và cảnh báo dịch bệnh NTTS cho người dân. Từ năm 2004, 4 phòng thí nghiệm này sẽ là các trạm vùng quan trắc cảnh báo môi trường và phòng ngừa dịch bệnh thuộc mạng lưới quốc gia quan trắc và cảnh báo môi trường phục vụ phát triển bền vững NTTS.
Mô hình quản lý môi trường NTTS ven biển cấp hộ đã được triển khai với 84 hộ dân ở 3 tỉnh. Tại một số xã điển hình được đầu tư cơ sở hạ tầng kết hợp với các hoạt động quản lý môi trường và thử nghiệm mô hình của DA, tỷ lệ hộ thua lỗ đã giảm rõ rệt (Quỳnh Bảng giảm từ 80% năm 2001 xuống còn 8% vào năm 2003, Hoằng Phong: từ 20% xuống còn 17%)... Do kỹ thuật được đưa trực tiếp đến người sản xuất, gắn trách nhiệm của hộ với kết quả của mô hình, nên các hộ tham gia đã nỗ lực hết mình để đảm bảo thành công. Đặc biệt, Nghệ An và Thanh Hoá đã điều chỉnh phương châm khuyến ngư: cắm chốt cán bộ về cơ sở, khuyến khích cán bộ khuyến ngư phối hợp xây dựng mô hình với người dân theo phương thức hợp tác, giao khoán cơ sở hạ tầng cho cán bộ khuyến ngư làm mô hình mà không đầu tư vốn.
Bên cạnh đó, DA cũng đã phát triển các mô hình quản lý môi trường nuôi trồng thủy sản ven biển dựa vào cộng đồng: tổ cộng đồng tự quản đã được thành lập ở 6 xã điểm và được nhân rộng ở 7 xã thuộc đầm phá Thừa Thiên – Huế, 5 xã ở Nghệ An và 4 xã ở Thanh Hoá.
Với các diễn biến môi trường và dịch bệnh ngày càng phức tạp, ý thức tự nguyện tham gia tổ cộng đồng tự quản ngày càng cao, khẳng định tính phù hợp và bền vững của mô hình quản lý cộng đồng do DA khởi xướng: nhiều địa phương đã hướng dẫn người dân tham gia và huy động người dân đóng góp quỹ cộng đồng để xử lý các rủi ro dịch bệnh và ô nhiễm môi trường.
Thống kê cho thấy, DA đã tổ chức được 41 đợt tập huấn cho 1.686 lượt người về các chuyên đề liên quan đến kỹ thuật nuôi trồng, quản lý môi trường và dịch bệnh của NTTS ven biển, tổ chức 22 cuộc họp để phát động phong trào quản lý môi trường NTTS dựa vào cộng đồng.
Ngành thủy sản đã đề ra mục tiêu phát triển bền vững thay cho phát triển “nóng” về sản lượng và diện tích NTTS. Và để phát triển bền vững, vấn đề quản lý môi trường hiện đang được quan tâm lớn nhất khi hàng loạt đợt dịch bệnh đã diễn ra ở cả 3 miền có nguyên nhân từ ô nhiễm môi trường, và các nguồn tài nguyên quý giá như nước ngầm, rừng ngập mặn bị suy thoái, tàn phá nghiêm trọng.
Thống kê của Bộ thủy sản cho thấy, đến đầu tháng 5 vừa qua, diện tích nuôi tôm bị nhiễm bệnh đốm trắng (có nguyên nhân từ ô nhiễm môi trường nước) tại 15 tỉnh Nam Trung Bộ và ĐBSCL đã lên tới 33.563 ha, chiếm tới 10,36% tổng diện tích thả nuôi. Hậu quả của dịch bệnh không chỉ tác động xấu đến người nuôi, mà còn ảnh hưởng đến lĩnh vực chế biến xuất khẩu khi nguồn nguyên liệu bị thiếu hụt đáng kể cũng như vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm. Phát triển diện tích nuôi tôm ồ ạt, không theo quy hoạch, vượt qua khả năng của hệ thống thủy lợi đã là một bức xúc cần giải quyết nhanh chóng của rất nhiều địa phương.
Theo ông Tạ Quang Ngọc, Bộ trưởng Bộ thủy sản, lĩnh vực NTTS sẽ được xem là trọng điểm trong định hướng phát triển bền vững của ngành thời gian tới. Ông Ngọc cho biết, có 4 vấn đề cần phải quan tâm để phát triển bền vững NTTS: bền vững phải hướng vào người nuôi thay vì hướng về đối tượng nuôi – vì như thế sẽ giải quyết được tất cả các vấn đề về kinh tế, xã hội và môi trường; thực hiện một nghề nuôi có trách nhiệm để hài hoà với sự bảo đảm môi trường; chuyển từ nghề nuôi dựa vào tài nguyên là chủ yếu sang nghề nuôi dựa vào trí tuệ (nhân lực có trình độ cao, hệ thống thông tin nhanh nhạy, công nghệ tiên tiến); thực hiện kết nối giữa các quốc gia trong khu vực về thực thi bền vững trong chiến lược phát triển.
Đức Nguyễn
Thời báo Kinh tế Việt Nam - No.113 2004-07-15