|
|
|
Lao động ngành tôm VN sẽ điêu đứng vì vụ kiện; XK thủy sản: Gánh nặng dồn vào cuối năm
VNN, 29/06/2004
Lao động ngành tôm VN sẽ điêu đứng vì vụ kiện;
Nếu bị áp mức thuế chống bán phá giá cao trong vụ kiện tôm, hàng trăm nghìn lao động Việt Nam có nguy cơ mất việc, hàng nghìn người có nguy cơ tái nghèo. Con số này được đưa ra hôm 28/6, tại buổi công bố kết quả nghiên cứu về tác hại của vụ kiện tôm do ActionAid Vietnam phối hợp với Hội nghề cá, Hội Nông dân và giới báo chí, trong đó có VietNamNet, thực hiện.
Theo nghiên cứu này, hiện nay, số lao động trực tiếp và gián tiếp liên quan đến ngành tôm Việt Nam lên tới 3,5 triệu người. Hậu quả của một phán quyết không công bằng từ Bộ Thương mại Mỹ về vụ kiện tôm sẽ ảnh hưởng hết sức nặng nề tới sinh kế của những người này. Rõ ràng, con tôm đã góp phần làm thay đổi bộ mặt kinh tế - xã hội các làng xã ven biển, nhiều cộng đồng dân cư thoát nghèo, tạo việc làm ổn định cho cư dân và khuyến khích các ngành nghề khác phát triển. Nghiên cứu cho thấy, bình quân một hộ gia đình (3-5 người) thu lợi nhuận 10-12 triệu đồng/vụ (tương đương 670-800USD), thậm chí lên tới 70-100 triệu đồng (khoảng 4.600-6.700USD) đối với các hộ khá. Ở những vùng chuyển đổi cơ cấu ngành nghề từ trồng lúa, thu nhập từ tôm cao ít nhất gấp 2-3 lần. Vì lẽ đó, không có lý do gì để người nông dân bán giá thấp, ảnh hưởng đến thu nhập và đời sống của họ.
Còn trong ngành chế biến thủy sản, trung bình mỗi nhà máy hiện đang tạo ra 1.000-2.000 việc làm ổn định, đảm bảo tiêu thụ tôm cho nông dân trong và ngoài địa phương sản xuất. Chỉ riêng 4 DN là bị đơn bắt buộc của vụ kiện, đã có tới 10.000 công nhân đang làm việc.
Theo ông Phan Văn Ngọc, Trưởng phòng Chính sách của ActionAid, một trong những nguyên nhân khiến con tôm Việt Nam giá rẻ, có lợi thế cạnh tranh là do chi phí đầu vào thấp. Thu nhập bình quân của một lao động nuôi tôm hiện khoảng 500.000 đồng/tháng (tương đương 41USD), cộng thêm tiền thưởng và sinh hoạt phí hàng ngày. Trong khi đó, lương lao động phổ thông tại Mỹ tối thiểu 6 USD/giờ, bằng 1.440 USD/tháng, gấp tới 35 lần. Còn đối với công nhân chế biến xuất khẩu, thu nhập có nhỉnh hơn, với mức lương bình quân 1-1,5 triệu đồng/tháng (100USD) - đủ để trang trải cho cuộc sống hàng ngày và phụ giúp gia đình. Như vậy, rõ ràng là không thể so sánh con số này với mức chi phí thấp nhất (khoảng 2.000 USD/tháng) cho một lao động làm tôm bình thường tại Mỹ. Giá thành tôm Việt Nam thấp do chi phí lao động rẻ, bên cạnh điều kiện tự nhiên thuận lợi, cũng là điều hiển nhiên.
Nghiên cứu này cũng cho rằng, việc nuôi, chế biến và xuất khẩu tôm hiện không nhận được bất kỳ sự trợ giúp nào từ Chính phủ. Trong nuôi tôm, có đến 30% số hộ dùng vốn tự có của gia đình, do cha ông để lại hoặc tích cóp được. Hơn 50% số người còn lại phải vay tiền từ ngân hàng, với lãi suất quy định. Để được vay tiền, họ phải thế chấp sổ đỏ, giấy chứng nhận diện tích nuôi tôm...
Riêng các DN chế biến hoạt động theo cơ chế thị trường, lời ăn lỗ chịu. Ông Lê Văn Quang, Giám đốc Công ty XNK Thủy sản Minh Phú, nhấn mạnh, không có lý do gì mà DN lại bán dưới giá thành và mang tài sản của mình cho không Mỹ. Hay các đại lý thu mua cũng kiếm được khoản lợi nhuận 200-500 đồng/kg tôm. Phần lớn các đại lý này cùng tồn tại song hành với sự phát triển của con tôm (từ những năm 1990) và hiện vẫn đứng vững. Điều này chứng minh rằng, cuộc sống của họ khá giả và bền vững khi gắn bó với ngành tôm.
Hiện nay, tuy vụ kiện còn trong giai đoạn điều tra nhưng đã tác động nhất định tới người nuôi tôm, DN chế biến, chưa kể đến nguy cơ bị áp thuế chống bán phá giá. Lo sợ thuế hồi tố, các công ty chế biến thủy sản Việt Nam đã phải cắt giảm lượng tôm xuất khẩu sang Mỹ từ tháng 4. Nông dân hoang mang, không biết mùa thu hoạch này sẽ bán tôm cho ai, giá cả thế nào, trong khi các khoản nợ đang treo lơ lửng trên đầu họ. Trên thực tế, giá tôm đang xuống mức thấp tại các tỉnh ĐBSCL, chỉ còn khoảng 70.000-95.000 đồng/kg. Mọi kế hoạch, dự định về mở rộng diện tích nuôi, tích lũy vốn, chuẩn bị thả tôm vụ tới của nông dân đều bị gác lại.
Như vậy, sau vụ kiện cá tra, basa, vụ kiện tôm lại đang đe dọa đến người lao động và ngành tôm Việt Nam. Một vụ kiện phi lý, thể hiện rõ chính sách bảo hộ mậu dịch và đi ngược xu thế tự do thương mại toàn cầu.
Chính ông Andrew Wells-Dang, Trưởng đại diện Quỹ tái thiết và Phát triển (Mỹ) cũng cho rằng, các nhà nhập khẩu, người kinh doanh và cộng đồng người tiêu dùng Hoa Kỳ đều lên tiếng phản đối vụ kiện này. Đại sứ Brazil tại Việt Nam nhận xét, dù có là thành viên WTO hay không, các quốc gia bị kiện đều bị tác động đáng kể. 6 quốc gia đã cùng phối hợp giải quyết vụ kiện, nhưng cũng chỉ ở mức độ nào đó, bởi mỗi bị đơn lại phải lo thuê luật sư, chuẩn bị hồ sơ theo yêu cầu của Bộ Thương mại Mỹ.
Tại buổi họp báo, Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) Nguyễn Hữu Dũng cho biết, cách đây 2 năm, VASEP đã đặt quan hệ với các công ty, cơ sở chế biến của Mỹ như ASDA, CITAC... VASEP cũng đang cung cấp số liệu để họ tuyên truyền, giúp quan chức và người tiêu dùng Mỹ hiểu được thực chất của vụ kiện. Việc DOC hoãn ra quyết định sơ bộ đến 6/7, theo ông Dũng, làm DN Việt Nam càng lo lắng hơn về việc thời gian tính thuế hồi tố. Do đó, Ủy ban Tôm VASEP đã yêu cầu DOC xem xét lùi thời gian ra quyết định của sơ bộ của Việt Nam như đối với các nước có nền kinh tế thị trường, tức là ngày 28/7, bởi sẽ là không có cơ sở nếu họ đưa ra phán quyết sơ bộ trước khi có quyết định về nền kinh tế.
Hà Yên
-------------------------
XK thủy sản: Gánh nặng dồn vào cuối năm
VNN, 29/06/2004
Tốc độ tăng trưởng chậm lại, mục tiêu xuất khẩu thủy sản năm 2004 phụ thuộc nặng nề vào 6 tháng cuối năm. Tại Hội nghị Sơ kết 6 tháng đầu năm, Bộ trưởng Bộ Thủy sản Tạ Quang Ngọc cho rằng, mục tiêu này đang bị lung lay vì ngành vẫn chưa giải được bài toán về nguyên liệu và thị trường.
Ông Ngô Anh Tuấn, Vụ trưởng Vụ Kế hoạch - Tài chính (Bộ Thủy sản), cho biết, số liệu ước tính của Bộ Thủy sản cho thấy, 6 tháng đầu năm, xuất khẩu thủy sản mới đạt hơn 1 tỷ USD, bằng 37,4% kế hoạch năm. Như vậy, từ nay đến hết năm, ngành thủy sản phải đạt ít nhất 280 USD/tháng, bởi 2 tháng cuối năm, xuất khẩu bao giờ cũng chậm lại. Con số này dường như là không tưởng, vì từ trước đến nay, ngành chưa bao giờ đạt được, nhất là khi thủy sản Việt Nam hiện phải đối mặt với nhiều khó khăn.
Khổ vì nguyên liệu
Hiện nay, tôm xuất khẩu vẫn là mặt hàng chủ lực của ngành. Song, 6 tháng đầu năm, nguồn nguyên liệu từ nuôi trồng đạt thấp. Trong khi đó, tiêu thụ tôm tại Mỹ lại tăng mạnh. Các nhà nhập khẩu tranh thủ nhập tôm nhằm tránh thuế hồi tố. Trung Quốc tăng lượng xuất khẩu tới 135%, Thái Lan 40,5%... Nhưng ở Việt Nam, tôm nguyên liệu thiếu, giá nguyên liệu cao khiến các DN không có tôm để xuất khẩu. Một số DN buộc phải nhập tôm để chế biến, song, nguồn này không ổn định, giá cao nên sức cạnh tranh của sản phẩm sau chế biến thấp. Ông Thái Thanh Dương, Giám đốc Trung tâm Thông tin (Bộ Thủy sản) cho rằng, chúng ta đã lỡ cơ hội để đẩy mạnh xuất tôm vào Mỹ, và tăng có 17%. Doanh số thủy sản từ tôm của các tỉnh ở bán đảo Cà Mau cũng chỉ đạt 385 triệu USD, bằng 37% kế hoạch, nên ảnh hưởng đáng kể tới chỉ tiêu xuất khẩu.
Thêm nữa, nguyên liệu khi khan hiếm thì giá quá cao, còn nay nguyên liệu dồi dào giá lại giảm trầm trọng, ảnh hưởng tới lợi ích người nuôi. Điều này cho thấy mối quan hệ giữa DN chế biến xuất khẩu và người sản xuất nguyên liệu chưa tốt. Khi giá tôm giảm 5-10%, thì giá thu mua nguyên liệu của các DN lại giảm tới 40%, thậm chí 50%. Khó khăn về thị trường dồn xuống, cả nhà chế biến và người sản xuất đều bị thiệt, song, bên thiệt thòi nhất vẫn là nông dân.
Khan hiếm nguyên liệu còn dẫn đến gia tăng nạn ngâm nước, bơm chích tạp chất. Theo Bộ Thủy sản, có tới hơn 2.000 hóa chất khác nhau đang được sử dụng trong NTTS mà không kiểm soát được. Ông Hồ Quốc Lực thừa nhận, vẫn còn một số DN thu mua nguyên liệu có tạp chất một cách công khai, nhất là các DN chế biến hàng thô, mà Hiệp hội thì bó tay vì không có chế tài xử lý.
Bấp bênh thị trường
6 tháng đầu năm, thị trường xuất khẩu của thủy sản Việt Nam thay đổi đáng kể. Ông Ngô Anh Tuấn nói, kim ngạch xuất khẩu vào Mỹ giảm 16,5% do chịu tác động của vụ kiện tôm. Thị trường Nhật Bản khả quan hơn khi 3 tháng đầu năm, xuất khẩu tăng 32,5%, đưa tỷ trọng lên 26%. Song, việc xuất khẩu vào Nhật Bản lại tiềm ẩn khó khăn do thị trường này đòi hỏi truy xuất nguồn gốc nguyên liệu (về tình trạng nhiễm khuẩn và phương pháp diệt khuẩn), mà đến nay, chúng ta vẫn chưa làm được.
Theo ông Lực, ngay từ bây giờ, Nhật đã buộc các lô hàng tinh chế xuất vào thị trường này phải truy xuất nguồn gốc. Thêm vào đó, thời điểm từ 1/4/2004 đến 31/3/2005 là một năm củng cố chất lượng ATVSTP trên toàn Nhật Bản. Trước đây, Nhật chỉ kiểm tra nghiêm ngặt vi sinh với hàng ăn liền, hàng phối chế, thì sắp tới là hàng sơ chế. Nếu tôm nguyên liệu của ta không được cải thiện, thì không chỉ hàng tinh chế, mà cả hàng thô Việt Nam cũng khó bán được vào thị trường này. Mặt khác, do xuất khẩu vào Mỹ gặp khó khăn, nhiều nước bị kiện khác như Thái Lan, Trung Quốc, Ấn Độ cũng chuyển hướng sang thị trường Nhật. Vì vậy, cạnh tranh tại Nhật sẽ ngày càng gay gắt.
Giá trị xuất khẩu vào EU mặc dù cũng tăng gần 37%, đưa tỷ trọng xuất khẩu lên 7,8%, nhưng EU cũng đang gia tăng các biện pháp về ATVSTP, đặc biệt là việc truy xuất nguồn gốc nguyên liệu từ 1/1/2005. Còn tại các thị trường khác, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam giảm mạnh: Trung Quốc giảm 51%, Đài Loan 14%, Hàn Quốc 11%. Các thị trường này nhập chủ yếu cá, mực, bạch tuộc đông lạnh, hàng khô, mà nguyên liệu để chế biến của ta 6 tháng đầu năm không nhiều.
Như vậy là tăng trưởng NTTS chưa đáp ứng được nguyên liệu cho nhu cầu xuất khẩu, chưa là chỗ dựa vững chắc cho xuất khẩu. Trong 6 tháng, NTTS chỉ tăng 5% (trong khi mọi năm là hai con số), khiến xuất khẩu chỉ tăng 4%.
Bên cạnh đó, giá tôm xuất khẩu bình quân giảm đáng kể so với năm ngoái khoảng 20%. Ví dụ, năm 2003, giá tôm đạt 9,57 USD/kg, thì nay chỉ còn 8,34 USD/kg (thấp hơn 12,9%). Hiện, Ấn Độ và một số nước khác cũng bước vào vụ thu hoạch tôm nên chào bán với giá thấp, chỉ khoảng 9,3 USD/kg so với mức 11 USD/kg. Tuy vậy, tôm Việt Nam vẫn bán được với giá cao hơn 5-10% so với Ấn Độ, Bangladesh. Nhưng sự sụt giảm về giá trị xuất khẩu cá đông lạnh đã ảnh hưởng không nhỏ đến chỉ tiêu chung, đặc biệt là từ khai thác biển. Mặt hàng cá ngừ, tuy sản lượng tăng, nhưng giá trị xuất khẩu lại giảm. Xuất khẩu bạch tuộc sang Hàn Quốc không đạt như mong muốn. Tuy tôm là mặt hàng chủ lực, nhưng nếu không có sự đóng góp của các mặt hàng này thì mục tiêu cũng khó đạt được.
Có đạt mục tiêu?
Ông Thái Thanh Dương dự đoán, thời gian tới, tình hình cung - cầu trên thị trường thế giới nói chung sẽ tốt, tiêu thụ thủy sản tăng. Nhập khẩu tôm vào Mỹ đặc biệt tăng mạnh từ tháng 8-10, cơ hội tốt để Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu. Tới thời điểm đó, vụ kiện tôm sẽ ngã ngũ, các DN đã biết mức thuế chống bán phá giá. Hiện nay, trong 6 quốc gia bị kiện, Việt Nam dẫn đầu về xuất khẩu tôm sú, còn Trung Quốc và Thái Lan chủ yếu là tôm thẻ chân trắng. Do vậy, ông Dương cho rằng, mặt hàng tôm sú có thể sẽ chịu ảnh hưởng ít hơn, và các DN phải cân nhắc thị trường xuất khẩu.
Còn ông Hồ Quốc Lực cho biết, xuất khẩu tôm vào Nhật cũng có nhiều thuận lợi. Nhật Bản là thị trường tiêu thụ tôm lớn nhất mà chúng ta đang có. Tại đây, tôm nobashi Việt Nam đã qua mặt Indonesia, do công nhân Việt Nam có đôi tay khéo léo hơn hẳn. Chúng ta cũng rất muốn vượt Thái Lan về mặt hàng tôm tẩm bột, nhưng sẽ rất khó do khâu chất lượng nguyên liệu. Theo ông Lực, nếu tôm sú nguyên liệu không bị ngâm tẩm tạp chất, sản lượng tôm tinh chế của Việt Nam sẽ gia tăng đột biến vào Nhật Bản. Doanh số tôm Việt Nam xuất vào Nhật sẽ qua mặt Indonesia, trở thành nước cung cấp tôm số một cho Nhật Bản. Tất nhiên, khi tỷ lệ sản phẩm tinh chế được nâng cao, ngư dân sẽ bán được tôm nguyên liệu với giá cao hơn.
Như vậy, dự báo 6 tháng cuối năm, xuất khẩu thủy sản gặp nhiều thuận lợi hơn khó khăn, nhưng việc đạt được 1,6 tỷ USD còn lại là gánh nặng quá lớn đối với ngành. Bởi không chỉ là con số xuất khẩu, mà diễn biến khó khăn của thị trường và khả năng thu hoạch từ nay trở đi dự báo tôm nguyên liệu sẽ giảm giá. Vấn đề phát sinh trong 6 tháng cuối năm là quan hệ lợi ích của ngư dân và DN chế biến xuất khẩu. Ông Dương gợi ý, giải pháp kịp thời, trước mắt là các DN nên tranh thủ thời gian thu hoạch tôm hiện nay để mua vào, vừa hạn chế thiệt hại cho bà con nuôi tôm, vừa dự trữ để xuất khẩu trong những tháng tới.
Hà Yên