Free Web Hosting by Netfirms
Web Hosting by Netfirms | Free Domain Names by Netfirms


Nuôi tôm trên cát ở miền Trung và những cảnh bảo về môi trường

NNVN, 23/6/2004


Với lợi nhuận hàng trăm triệu đồng/ha/năm, nuôi tôm trên cát đã làm say đắm lòng người, gợi nên bao ước vọng làm giàu từ những vùng bãi ngang nghèo khó của các tỉnh ven biển miền Trung. Lợi nhuận nuôi tôm đã rõ nhưng vấn đề về môi trường ở vùng này cũng đã rung lên những hồi chuông cảnh báo. 

Theo kết quả khảo sát năm 2002 của Bộ Thủy sản từ Thanh Hóa đến Bình Thuận có khoảng 2 vạn ha đất cát có khả năng quy hoạch và cải tạo để nuôi trồng thủy sản, trong đó diện tích phù hợp nuôi tôm Quảng Bình khoảng 4.500 ha, Quảng Trị 4.000ha, Quảng Ngãi 4.000ha, Ninh Thuận 1500ha, Bình Định 1300-1.500ha, Hà Tĩnh 1300ha... Nuôi tôm trên cát là một thành công mới của Ngành thủy sản nước ta. Bắt đầu từ năm 1999 Viện Kinh tế và Quy hoạch Thủy sản (VKTVQHTS) cùng một hộ nông dân tỉnh Ninh Thuận thử nghiệm thành công việc nuôi tôm trên cát dùng nilông làm chất phủ chống thấm diện tích 0,5ha. Từ thành công này Viện nhân rộng mô hình nuôi tôm trên cát dùng vật liệu rẻ tiền làm vật liệu chống thấm; phong trào nuôi tôm vùng cát ở các tỉnh miền Trung đã bùng phát, chỉ 3 năm sau đã lên tới 1071,5ha. Dẫn đầu là Ninh Thuận 331 ha, các tỉnh Thừa Thiên Huế 246ha, Bình Thuận 175ha, Hà Tĩnh 65 ha, Quảng Trị 55 ha, Quảng Ngãi 51 ha... Năng suất năm 2001 đạt bình quân 5,7 tấn /ha, năm 2003 giảm xuống còn 4,4 tấn/ha. Có nhiều nguyên nhân trong đó nguyên nhân chính của sự giảm sút năng suất là do lợi nhuận từ nuôi tôm trên cát cao hơn nhiều so với nuôi trên các ao đất nên nhiều nông dân đã cố tình làm thêm một vụ với chất lượng tôm giống rất kém cộng với sự ô nhiễm của môi trường ao nuôi. Tuy năng suất có giảm sút nhưng thu nhập trên ha nuôi tôm vùng cát các tỉnh ven biển miền Trung vẫn rất cao. PGS-TS Hà Xuân Thông, Viện trưởng VKTVQHTS đưa ra con số bình quân mỗi hộ lãi gần 75 triệu đồng/năm, hộ lãi nhiều tới 130 triệu đồng, thu nhập một ha bình quân trên 513 triệu, nơi cao tới 800 triệu đồng. Lợi nhận hấp dẫn đã khiến cho tốc độ nuôi tôm vùng cát ven biển miền Trung tăng chóng mặt. Ao đầm càng mở ra bao nhiêu thì nhu cầu cung cấp nước ngọt nước mặn cho vùng nuôi tôm này càng lớn bấy nhiêu. Theo bà Nguyễn Phương Lan Vụ Khoa học - Công nghệ, Bộ Thủy sản thì nhu cầu nước ngọt cho 1 ha nuôi tôm 1 vụ cần 16.000-27.000 m3, nếu thay nước 3 lần trong một vụ thì cần 50.00m3. Trên thực tế khu vực miền Trung trữ lượng nước ngầm rất hạn chế.TS Hà Lương Thuần TT Nghiên cứu Tài nguyên nước - Môi trường Viện Khoa học Thủy lợi dẫn chứng vùng bắc và nam đèo Hải Vân từ thập kỷ 80 đến nay đang có xu thế hạn hán và sa mạc hóa, năm nào cũng có hạn. Năm 2002-2003 các tỉnh miền Trung hạn nặng hàng chục vạn ha, hàng ngàn ha nuôi tôm bị mất trắng. Nhu cầu nước sinh hoạt vùng này chỉ đáp ứng được 61% cho dân sinh. Càng mở rộng quy mô nuôi tôm trên cát buộc lòng nông dân và các doanh nghiệp càng phải khai thác nguồn nước ngầm. Bà Nguyễn Phương Lan tính toán nếu nuôi tôm ở quy mô tập trung khoảng 300ha và mỗi năm tiến hành nuôi 2 vụ ước tính sơ bộ nhu cầu nước ngọt sẽ vào khoảng 15 triệu m3, nuôi 2000ha cần khoảng 100 triệu m3. Đó là con số khổng lồ đối với một miền Trung khô nóng, Ngoài nguy cơ cạn kiệt nguồn nước ngọt và nước ngầm, đào vùng cát ven biển để làm ao đầm nuôi tôm là phá mất sự ổn định của vùng cát. GSTSKH Nguyễn Văn Trương Viện trưởng Viện Kinh tế sinh thái nhận xét "khó có thể lường trước được mối hiểm họa lớn do cát di động gây nên, đào bới đất cát ổn định, đắp cát rời rạc thành các bờ ao mà không có biện pháp để giữ khối cát này bay, nhảy, khác nào kiếm củi ba năm thiêu một giờ". Việc giảm nguồn nước ngầm cũng gây mất cân bằng sinh thái ở vùng cát khiến cho nước mặn vùng biển có cơ hội lấn sâu vào đất liền là ngược lại với công sức hàng ngàn năm, ông cha ta đã cùng nhau lấn biển ngọt hóa đồng ruộng. PGS. TS Nguyễn Văn Hồi VKTVQHTS nêu nguy cơ ô nhiễm biển và nước ngầm do chất thải của các ao đầm nuôi tôm vùng cát. Tính sơ bộ mỗi héc ta khoảng gần 8 tấn chất thải rắn cùng hàng chục ngàn m3 nước thải khác. Nếu vậy một khu nuôi 300 ha thì vùng biển lân cận sẽ phải tiếp nhận 2400 tấn chất thải rắn /vụ và nguồn nước thải rất lớn, ảnh hưởng xấu đến chất lượng nước vùng ven biển.