|
|
|
Vượt khó khăn để xuất khẩu thủy sản đạt 5 tỷ USD vào năm 2005
ND, 23/6/2004
Gần sáu tháng đầu năm, xuất khẩu (XK) thủy sản mới chỉ đạt hơn 30% kế hoạch, do nhiều yếu tố bất lợi luôn ập đến ngành thủy sản: Giá nguyên liệu cho chế biến XK thất thường; nhiều đơn đặt hàng của nước ngoài có lúc đáp ứng không kịp; Tuy nhiên Bộ trưởng Thủy sản Tạ Quang Ngọc vẫn lạc quan về khả năng đạt 5 tỷ USD XK thủy sản vào năm 2005.
Hỏi: Thưa Bộ trưởng, giá trị kim ngạch XK thủy sản trong gần sáu tháng đầu năm 2004 chỉ đạt hơn 30%, đây có phải là dấu hiệu XK bị chững lại?
Bộ trưởng Tạ Quang Ngọc: Con số này không biểu hiện sự chững lại hay thất thường nào nếu đặt trong sự phát triển của XK thủy sản ba năm qua. Năm 2002, giá trị XK sáu tháng đầu năm đạt thấp, còn sáu tháng cuối năm đạt giá trị rất cao. Trong sáu tháng đầu năm 2003, giá trị cũng đạt thấp do nhiều rắc rối về vụ kiện cá tra, cá ba sa; dịch SARS... nhưng cả năm vẫn đạt kế hoạch đề ra. Dù thế nào thì cũng cần chỉ rõ ra là bức tranh XK sẽ khác: Thị trường Mỹ bắt đầu bị ảnh hưởng bởi vụ kiện tôm (từ ngày 31-12-2003), lượng hàng XK vào nước này không nhiều; thị trường Trung Quốc cũng chưa cải thiện được gì. Tuy nhiên, XK vào thị trường Nhật Bản, EU tăng nhiều. Thực tế này cần định hướng và đưa ra giải pháp hợp lý hơn mà chúng tôi sẽ bàn vào cuối tháng 6 này.
Hỏi: Vừa qua, nhiều DN nhận được các đơn đặt hàng nhưng không có đủ hàng để xuất, trong khi cuối năm 2003, hàng tồn nhiều lại không có đơn hàng. Vì sao không tính đến dự trữ để đón thời cơ "sốt thiếu", thưa Bộ trưởng?
Bộ trưởng Tạ Quang Ngọc: Đúng là cuối năm 2003, có một lượng thủy sản XK tồn kho, vài tháng đầu năm 2004, chúng ta cần xuất nhiều thì không có tôm (do nhu cầu của thế giới tăng, thời tiết bất thường, tôm chết nhiều...), giờ có tôm lại e ngại bị ảnh hưởng từ vụ kiện. Tuy nhiên, theo tôi dự trữ là không thể được, bởi hai lý do: 1- Trong nuôi trồng thủy sản có thực hiện công nghiệp kiểu gì thì bản chất vẫn mang tính nông nghiệp cao (tính mùa vụ); 2- Hiện, một số lượng lớn tôm của ta vẫn nuôi quảng canh, làm sao rải ra bằng cách tạm trữ được. Tạm trữ là quá mạo hiểm.
Hỏi: Tại nhiều vùng (đặc biệt là miền trung) rất nhiều nhà máy hoạt động với công suất rất thấp, chất lượng và hiệu quả đều kém, thực tế này ảnh hưởng thế nào đến XK, thưa Bộ trưởng?
Bộ trưởng Tạ Quang Ngọc: Chúng ta rất mong muốn những vùng nghèo có điều kiện bứt phá nhanh. Tại miền bắc, trung có rất nhiều nhà máy chế biến thủy sản nhưng đáng buồn là kim ngạch XK thủy sản mới đạt 20% tổng giá trị XK thủy sản cả nước. Thực tế, có nhiều nhà máy làm ăn rất tốt nhưng có nhà máy thì như bị để hoang. Bộ cũng đã tạo điều kiện vực dậy các nhà máy ở miền trung nhưng không thể làm được ngay. Chúng tôi vừa đi kiểm tra tại các tỉnh khu 4 cũ, giá trị XK ở đây đạt rất thấp. Thanh Hóa báo cáo XK thủy sản đạt bảy triệu USD, nhưng thực tế chỉ xuất được 1,9 triệu. Các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị cũng như thế. Cả khu vực miền trung giữ mức XK đạt 100 triệu USD cũng khó. Cung cách làm ăn yếu kém, nhà máy kém hiệu quả là nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó.
Hỏi: XK hiện tại đang đối mặt nhiều khó khăn, liệu mục tiêu đạt 2,6 tỷ USD trong năm 2004 và 5 tỷ USD năm 2005 có đạt được? Bộ sẽ tập trung giải quyết khó khăn nào trước?
Bộ trưởng Tạ Quang Ngọc: Trong hơn hai tỷ USD đạt được từ XK thủy sản thì một nửa là từ con tôm. Càng mở rộng nuôi tôm thì môi trường càng không tốt. Vấn đề đặt ra là diện tích mặt nước, quy hoạch, môi trường có thể chịu được để tăng giá trị XK đạt 5 tỷ USD vào năm 2005 không? Theo tôi kết quả này sẽ thực hiện được với điều kiện: Có hệ thống quản lý nhà nước đủ mạnh; thể chế mạnh, thực hiện tốt từ trung ương đến địa phương; đẩy mạnh đầu tư. Hiện mỗi năm, Nhà nước mới đầu tư phát triển CSHT cho ngành thủy sản chỉ bằng 1/10 tổng nhu cầu đầu tư của ngành.
Trước mắt, Bộ sẽ tập trung giải quyết những khó khăn
về thị trường: Xác định một cơ cấu thị trường tránh
được những rủi ro (rào cản thương mại thuế và phi
thuế, môi trường...). Mỗi thị trường có một chiến lược
sản phẩm, mỗi một chiến lược sản phẩm có một phương
án phát triển. Với thị trường Mỹ, sẽ giữ ở mức
600-700 triệu USD, phát triển hơn nữa vào thị trường
Nhật Bản, EU, Hàn Quốc...; Định vị cơ cấu sản phẩm
hợp lý, trong đó con tôm là chủ lực tính đến năm 2010. Các
mặt hàng khác dù là đánh bắt, hay nuôi trồng đều phải
chịu sự quản lý chặt chẽ từ trước khi nuôi đến lúc
đưa lên bàn ăn...
- Xin cảm ơn Bộ trưởng.
QUYỀN THÀNH thực hiện (Báo Tiền phong)