Free Web Hosting by Netfirms
Web Hosting by Netfirms | Free Domain Names by Netfirms


Doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản lao đao

VNexpress, 27/4/2004


Nguyên liệu thiếu thốn, giá mua vào tăng cao đang bó chân nhiều đơn vị chế biến. Một số tạm thời đóng cửa, số khác chỉ sản xuất cầm chừng. Tình hình này khiến xuất khẩu thuỷ sản càng thêm khó khăn, kim ngạch tháng 4 tiếp tục giảm sút.

Bộ Thuỷ sản ước tính, kim ngạch xuất khẩu toàn ngành 4 tháng đầu năm đạt 575 triệu USD, tăng hơn 2% so với cùng kỳ. Riêng tháng 4, giá trị xuất khẩu đạt 155 triệu USD, giảm 5 triệu USD so với tháng trước. Theo phân tích của Bộ, nguyên nhân chính của thực trạng này là sự khó khăn về nguyên liệu. Do đang trái mùa, sản lượng khai thác cũng như nuôi trồng đạt thấp, đẩy giá nguyên liệu tăng cao. Giá tôm đang cao hơn 10-20% so với cuối năm ngoái. Riêng cá tra, basa tăng 40%. Cuối tháng 3/2004 các doanh nghiệp chế biến của An Giang, Cần Thơ đã nâng giá bán buôn cá basa, cá tra xuất khẩu lên 3,6-3,7 USD/kg.

Với 2 sản phẩm xuất khẩu chủ lực là tôm và cá tra, basa, Xí nghiệp Chế biến Thuỷ súc sản Xuất khẩu Cần Thơ (Cafatex) cũng không thoát khỏi khó khăn chung. "Giá tôm cao hơn cuối năm ngoái khoảng 20%. Giá cá basa cũng trên trời. Khó khăn lắm nhưng không biết làm thế nào. Mình làm ăn trong cơ chế thị trường thì phải theo thị trường, không thể đề nghị nông dân giảm giá nguyên liệu được, bởi giá xuất khẩu cũng đang cao hơn trước", Giám đốc Nguyễn Văn Kịch tâm sự với VnExpress. Ông hy vọng đến tháng 8, tình hình sẽ đỡ hơn. Kể từ khi Mỹ kiện bán phá giá tôm đến nay, hầu như Cafatex không bán được lô hàng nào vào thị trường này. Các đơn hàng cá tra, basa sang đây cũng rất ít.

Theo Giám đốc Công ty cổ phần Thực phẩm Sao Ta Hồ Quốc Lực, sản lượng đánh bắt và nuôi trồng của cả nước 4 tháng đầu năm không hề giảm so với cùng kỳ các năm, song do công suất chế biến của các nhà máy tăng nhanh nên tình hình năm nay khó khăn hơn. Thống kê của Bộ Thuỷ sản cho thấy, tổng sản lượng thủy sản 4 tháng đầu năm ước đạt hơn 553.000 tấn, tăng 1% so với cùng kỳ. "Chúng tôi luôn theo dõi kỹ tình hình, nắm bắt thông tin để thu mua nguyên liệu từ nhiều nguồn khác nhau, thậm chí phải sang cả những vùng không chế biến để mua. Vì vậy, Sao Ta tạm đủ nguyên liệu để thực hiện hợp đồng đã ký", ông Lực cho biết.

Tuy nhiên, vướng mắc về thị trường Mỹ, EU hầu như cũng không tác động tới doanh số xuất khẩu của Sao Ta. Kim ngạch 4 tháng đầu năm của đơn vị này tăng 15% lên 20 triệu USD, trong đó thị trường Nhật chiếm gần 80%. Để khỏi khó khăn chung, ông Lực cho rằng, doanh nghiệp nên căn cứ vào mối quan hệ sẵn có cũng như cơ sở vật chất của mình mà tìm nơi bán hàng cho phù hợp. "Riêng tôi thì thấy Nhật Bản là thị trường tốt nhất để phát triển thuỷ sản xuất khẩu của Việt Nam. Sao Ta luôn duy trì tỷ trọng xuất vào thị trường Nhật ở mức 55-80% từ nhiều năm qua, điều này giúp chúng tôi đứng vững khi thị trường Mỹ gặp sự cố", ông tiết lộ.

Theo ông Lực, người Nhật Bản có thể tiêu thụ các loại thuỷ sản mà Việt Nam sản xuất được. Tỷ suất lợi nhuận xuất sang thị trường này cũng luôn cao hơn Mỹ, do tại Mỹ có quá nhiều đối thủ cạnh tranh trong khi người Nhật chỉ giới hạn mua thuỷ sản của một số nước. "Về mặt địa lý cũng như văn hoá, họ đều gần gũi với mình nên thuận tiện trong việc đi lại, thương thuyết và ký kết hợp đồng làm ăn. Múi giờ giữa 2 nước không chênh nhau quá nên đôi khi chỉ cần qua điện thoại có thể ký được một hợp đồng và giao hàng", ông phân tích.

Cái khó ở thị trường xứ hoa anh đào, theo ông Lực chính là họ luôn đòi hỏi sự thay đổi về mẫu mã, quy cách sản phẩm, điều mà không phải doanh nghiệp nào cũng đáp ứng được. Trước khi ký hợp đồng, các doanh nhân Nhật có thói quen tìm hiểu rất kỹ về trình độ, năng lực của đối tác, điều kiện vệ sinh, an toàn thực phẩm cũng như đời sống của lao động. Nếu đạt, họ mới quyết định hợp tác lâu dài.

Song Linh