|
|
|
"Vua cá lóc" Đồng Tháp Mười
VNN, 26/3/2004
Ở vùng sâu phèn chua xã Phú Thọ, huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp, nhiều người thường gọi ông Sáu Dính (Nguyễn Văn Dính) là “Vua cá lóc”. Bởi ông là người đầu tiên thành công và khởi xướng nghề nuôi cá lóc ở Đồng Tháp Mười.
Phải mất mấy lần hỏi thăm đường chúng tôi
mới đến được nhà ông Sáu Dính nằm heo hút bên kinh Đồng
Tiến. Đó là căn nhà sàn cao ráo, thoáng mát cất theo kiểu vượt
lũ. Xung quanh là những hầm cá ước chừng 6.000 m2, ông Sáu Dính năm
nay đã ngoài 70 tuổi, người gầy nhưng trông còn khỏe mạnh. Màu
da xám đen, đôi mắt sáng, hai bàn tay sần sùi chai sạm. Ông đang
say sưa cho cá ăn và chăm sóc con giống. Thấy chúng tôi đến nhà,
ông vội mời ra thăm hầm cá. Ông khoe: “Chỉ riêng cái hầm nhỏ
sau nhà, tôi vừa bán 14 tấn, thu lời hơn 28 triệu đồng”. Bình
quân mỗi năm nuôi 2 đợt, thu về hơn 200 tấn cá lóc thương
phẩm, sau khi khấu trừ chi phí ông còn lời khoảng 200 triệu đồng.
Ngoài ra, ông còn canh tác trên 50 công ruộng thu vào không dưới
2.500 giạ lúa mỗi năm.
Ông Sáu Dính sinh ra ở vùng biên giới Châu Đốc ( An Giang). Nhà
nghèo không nghề nghiệp, đất đai sản xuất, khi lấy vợ xong ông
lang thang khắp nơi tìm việc. Khi thì ở Tứ giác Long Xuyên, lúc vô
Đồng Tháp Mười, cắt lúa, đào đất, giăng câu, chày lưới...
hể nơi nào có người thuê mướn thì ông đến làm, kiếm tiền
mua gạo nuôi vợ nuôi con. Đầu thập niên 1980, con kinh Đồng
Tiến được đào xuyên qua vùng Đồng Tháp Mười. Nghe nhiều người
“đồn đại” vùng này đất rộng người thưa, cá tôm nhiều vô
kể nhưng ít ai chịu về sinh sống, mặc dù Nhà nước có chính sách
khuyến khích lập nghiệp theo diện kinh tế mới. Thế là, ông bàn
với vợ lặn lội từ An Giang sang Tam Nông cất chòi lập nghiệp.
Đúng như lời “đồn”, xứ Tam Nông thời đó hoang vắng điều
hiu, đi 3- 4 cây số mới có một cái nhà. Đất đai ở đây rộng
mênh mông nhưng bị nhiễm phèn nặng, nhìn tới nhìn lui không
biết trồng cây gì, nuôi con gì để sống! Ban đầu, ông cũng như
những hộ di dân khác, được Nhà nước cấp cho 3 ha đất phèn.
Vợ chồng mừng rỡ, gom góp tiền làm thuê làm mướn mua lúa
giống gieo sạ. Đất phèn, lại gặp hạn, lúa chỉ sống được hơn
tháng, khô héo dần rồi chết. Cuộc sống đã nghèo, lại càng nghèo
thêm. Không nản chí, ông tiếp tục mua lúa giống sạ tiếp vụ 2,
vụ 3... Rồi lúa cũng không sống được trên vùng đất phèn chua,
lau sậy này. Thiếu ăn, đói khát càng ngày đè nặng hơn, hàng
loạt hộ chia tay với vùng Đồng Tháp Mười khắc nghiệt, ra
đi tìm nơi ở khác. Ngay cả những bạn bè, người thân của ông
cũng lặng lẽ rút lui. Thế nhưng, ông một mực bám trụ, quyết tâm
chinh phục vùng đất khó. Rút kinh nghiệm từ 3 vụ trước trắng
tay, lần này ông đào mương nhỏ xung quanh vừa hạ phèn, vừa tích
trữ nước. Điều chỉnh lại lịch thời vụ để né hạn, ông còn
lặn lội tìm cán bộ nông nghiệp hướng dẫn mua phân, thuốc...
về bón cho lúa, nhằm nuôi dưỡng lúa trong thời gian hạn và có
sức đề kháng sâu bệnh... Cuối vụ, ông thu hoạch được gần
200 giạ; một thành công ngoài sức tưởng tượng.
Chinh phục được vùng đất phèn chua, năng suất lúa mỗi năm không
ngừng tăng lên. Ông tích lũy mua thêm đất ruộng mở rộng sản
xuất, cuộc sống gia đình từng bước ổn định. Nhưng vẫn luôn
trăn trở, nếu cứ độc canh cây lúa thì rất khó vươn lên làm
giàu. Không bằng lòng với những gì đạt được, ông tiếp tục
tìm mô hình làm ăn mới. Những năm 1990, người dân
khắp nơi đổ về Tam Nông sinh sống ngày càng đông. Nguồn cá
đồng tự nhiên bị khai thác cạn kiệt dần, ông nẩy sinh ý định
nuôi cá lóc đồng, vừa làm thức ăn trong gia đình, vừa để bán.
Thông thường cứ đến tháng 4, tháng 5 âm lịch mưa xuống, thì cá
lóc mẹ sinh sản rất nhiều. Thế là, ông đi vớt cá rồng rồng
đem về nuôi. Mấy năm đầu liên tục thất bại, vì cá giống
chết hàng loạt. Nguyên nhân, cá ăn không hợp khẩu vị như:
tấm, cám, cơm, hột vịt... Suy nghĩ mãi, cuối cùng ông bắt ốc và
cá tạp quết nhuyễn cho cá ăn thử, không ngờ thành công. Mừng
rỡ, ông chạy ra chợ tìm mua cối để quết cá. Hàng ngày, ông ra
đồng tìm bắt ốc, cá vụn... để làm thức ăn cho cá. Năm 1993,
khi có được nguồn cá giống ổn định, ông bắt đầu thử
nghiệm mô hình nuôi cá lóc thương phẩm đầu tiên ở Tam Nông.
Sau 8 tháng nuôi, ông thu hoạch được trên 5,2 tấn cá lóc loại 1,
bán với giá từ 12.000 đ/kg trở lên, trừ chi phí còn lời 27
triệu đồng.
Thấy ông nuôi cá lóc đạt hiệu quả cao, nhiều hộ xung quanh
bắt đầu xẻ mương đào ao chuyển sang nuôi cá lóc. Ngay cả
những hộ ở xa như Phú Đức, Phú Hiệp, Phú Thành A, Tân Công Sính
(huyện Tam Nông); rồi nhiều người ở mãi Cà Mau, An Giang, Kiên
Giang... cũng tìm đến học hỏi mô hình nuôi cá lóc của ông. Ông
tận tình hướng dẫn kỹ thuật nuôi, phương pháp cho ăn, cách phòng
trị bệnh... để mọi người áp dụng. Phong trào nuôi cá lóc từ
đó phát triển mạnh lên. Nguồn cá giống tự nhiên không đủ
cung cấp. Thế là, ông cùng một số hộ lân cận nghiên cứu,
chọn cá từ 200 gram trở lên cho sinh sản nhân tạo. Đồng thời
phát hiện ra giống cá lóc môi trề, ăn mạnh, lớn nhanh (khoảng 4
tháng/vụ), nuôi được quanh năm và cho sinh sản rất dễ. Có được
nguồn cá giống nhân tạo dồi dào, ông chủ động sắp xếp
lịch thời vụ. Thông thường, từ tháng 10 đến tháng Chạp thời
tiết lạnh, cá dễ nhiễm bệnh. Ông thường xuống giống né
thời điểm này và cho thu hoạch khoảng tháng 7-8 hoặc sau tết, cá
bán được giá cao. Theo ông Sáu Dính, để nuôi cá lóc thành công
ngoài khâu kỹ thuật thì cần nắm vững nhu cầu thị trường.
Vụ cá chính vụ năm rồi giá rớt thê thảm còn khoảng
11.000 đ/kg, làm nhiều hộ lỗ nặng. Riêng ông nuôi cá trái vụ,
thu hoạch sau tết giá tăng từ 18.000 đ- 21.000 đ/kg. Gần 75 tấn cá
thương phẩm, ông thu lời khoảng 400 triệu đồng.
Mặc dù, thành công trong nghề nuôi cá lóc và nhận được nhiều
bằng khen của cấp huyện, tỉnh, Trung ương, 2 lần ra Hà Nội báo
cáo điển hình về phong trào nông dân sản xuất giỏi, thế nhưng,
ông còn nhiều trăn trở khi bệnh nhiễm khuẩn làm cho cá chết hàng
loạt, mà đến nay chưa tìm ra thuốc trị. Ông đang nỗ lực tìm
nhiều loại thuốc chữa trị và liên lạc nhờ các nhà khoa học
giúp sức. Theo ông Sáu Dính, nếu khắc phục được bệnh nhiễm
khuẩn thì nghề nuôi cá lóc sẽ giúp nông dân Tam Nông thoát nghèo,
làm giàu một cách ổn định.
PHƯƠNG UYÊN