Free Web Hosting by Netfirms
Web Hosting by Netfirms | Free Domain Names by Netfirms


Về tiêu thụ tôm của Việt Nam

TCTS 2/2004


Trong các mặt hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam từ trước đến nay, tôm nhất là tôm đông lạnh luôn chiếm tỷ trọng cao. Trước những năm 1990, kim ngạch xuất khẩu tôm luôn chiếm trên 70% giá trị xuất khẩu thủy sản hằng năm. Cùng với thời gian, hoạt động xuất khẩu thủy sản có sự tăng trưởng mạnh, đồng thời tỷ trọng của các mặt hàng khác tôm như cá, nhuyễn thể, cũng dần tăng lên. Từ những năm 2000 trở lại đây, tôm chỉ còn chiếm tỷ lệ tương đối trên dưới 50% kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam. Tuy nhiên, về giá trị tuyệt đối, kim ngạch xuất khẩu tôm vẫn liên tục tăng trưởng và đến năm 2003 đã lần đầu tiên vượt qua mức 1 tỷ USD, bằng khoảng 49% tổng kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản cả nước và chiếm gần 10% giá trị xuất khẩu tôm trên toàn cầu (Bao gồm cả tôm nước ấm và tôm nước lạnh). Với giá trị đó, Việt Nam đã nằm trong số 5 nước xuất khẩu tôm nhiều nhất thế giới. Ðây là một niềm tự hào của chúng ta, là yếu tố xác định vị thế của một nhà xuất khẩu tôm lớn với tiếng nói có trọng lượng cao trên thị trường.

Theo số liệu thống kê, năm 2003 Việt Nam sản xuất hơn 300 nghìn tấn tôm, trong đó sản lượng tôm nuôi là 244 nghìn tấn. Như vậy, qua nhiều năm, sản lượng tôm khai thác tự nhiên dao động trong khoảng 60 90 nghìn tấn mỗi năm và đã có dấu hiệu giảm nhẹ, cho thấy nguồn lợi này đã được sử dụng tới giới hạn cho phép. Trong khi đó, sản lượng tôm nuôi tiếp tục tăng nhanh, ở mức trên 20%/năm với tỷ lệ tôm sú nuôi ở mức áp đảo (Hơn 200 nghìn tấn tôm sú/tổng số 244 nghìn tấn tôm nuôi). Tuy nhiên, mức tăng của tôm sú nuôi năm 2003 so với năm 2002 chỉ bằng 11,1%, thấp hơn mức tăng chung của tôm nuôi, cho thấy đã bắt đầu có sự chuyển dịch cơ cấu. Sản lượng nuôi một số loài tôm khác, nhất là tôm rảo, đã trở thành đáng kể, do đã sản xuất được con giống nhân tạo và kỹ thuật nuôi cũng được hoàn thiện dần.

Sản lượng tôm đông lạnh xuất khẩu của ta năm 2003 là 125 nghìn tấn. Nếu quy đổi theo tỷ lệ 1,6 thì lượng nguyên liệu sử dụng cho xuất khẩu tôm đông lạnh là 200 nghìn tấn. Phần 100 nghìn tấn tôm nguyên liệu còn lại, chủ yếu là tôm có giá trị thấp hơn, được dùng làm tôm khô và tôm hộp (phần lớn cũng được xuất khẩu), sản phẩm lên men (mắm, ruốc) và để ăn tươi. Theo ước tính, phần tôm được sử dụng cho thị trường nội địa còn rất thấp, chỉ tương đương 30 40 nghìn tấn mỗi năm, trong đó có khoảng 10 nghìn tấn làm tôm đông lạnh (tương ứng 5 6 nghìn tấn sản phẩm).

Gần một nửa giá trị xuất khẩu tôm đông lạnh của Việt Nam thu được từ thị trường Mỹ. Ðiều đó có nghĩa là non một phần tư tổng giá trị xuất khẩu thủy sản thu được từ bán tôm đông lạnh cho thị trường này. Nguyên nhân cơ bản của hiện tượng này là do thị trường tôm của Mỹ đang tăng trưởng rất nhanh, vượt qua cả thị trường đã đứng đầu trong nhiều năm trước đây là Nhật Bản.

Năm 2003, thị trường Mỹ đã nhập khẩu hơn 500 nghìn tấn tôm các loại, tăng 17,5% so với năm 2002 (430 nghìn tấn). Giá bán tôm vào Mỹ cũng thường tốt hơn cho các nhà xuất khẩu và đây là một thị trường năng động, ít bảo thủ hơn so với các thị trường khác.

Sự tập trung cao độ vào xuất khẩu tôm, nhất là vào một thị trường Mỹ, tiềm ẩn một nguy cơ rủi ro lớn cho xuất khẩu thủy sản của Việt Nam. Một khi thị trường tôm nói chung, thị trường tôm Mỹ nói riêng có biến động suy giảm thì việc hoàn thành chỉ tiêu xuất khẩu thủy sản của nước ta sẽ không tránh khỏi bị thách thức.

Do đó, đa dạng hóa đối tượng, mặt hàng và đa phương hoá thị trường tiêu thụ là những đòi hỏi cấp bách, thường xuyên đối với sản xuất thủy sản của Việt Nam, mà không phải là vấn đề chỉ được đặt ra khi xuất hiện những rào cản, những thách thức.

Như chúng ta đã biết, ngày 31/12/2003, Liên minh Tôm miền Nam nước Mỹ đã đệ trình Bộ Thương mại và Uỷ ban Mậu dịch quốc tế Mỹ đơn kiện 6 nước ở châu á và Nam Mỹ bán phá giá một số mặt hàng tôm đông lạnh và đóng hộp vào thị trường Hoa Kỳ . Rõ ràng, đây là một vụ kiện hết sức phi lý và gây bất bình, vì thế từ đầu đã bị ngay cả nhiều tổ chức và dư luận Mỹ lên án. Song từ kinh nghiêm của vụ kiện bán phá giá cá Tra và Ba sa phi lê đông lạnh của Việt Nam vào thị trường Mỹ , kết thúc vào giữa năm ngoái, chúng ta đã có bài học kinh nghiệm rằng, trong phần lớn những vụ kiện như vậy, không phải bao giờ chân lý cũng giành trọn vẹn phần thắng. Do vậy, dù không muốn điều đó xảy ra, chúng ta vẫn phải nghĩ, tính toán các phương án khi có những biến cố bất lợi sau vụ kiện này. Thật ra, những suy nghĩ, tính toán này là không thừa, bởi vì ngay cả khi không có vụ kiện, thì thị trường vẫn có những biến động bất lợi khó lường bởi những lý do khác nhau, nên đối với những thị trường chiếm thị phần cao, chúng ta phải luôn cảnh giác và có phương án đối phó dự phòng.

Câu hỏi đặt ra ở đây là, trong trường hợp gặp kết quả bất lợi trong vụ kiện này, liệu xuất khẩu thủy sản của Việt Nam có bị khủng hoảng ?

Trả lời câu hỏi này là rất khó, nhất là khi vụ kiện còn đang tiếp tục diễn biến không đơn giản. Tuy vậy, có thể thấy một số điểm sau :

1/ Dù tôm có tiếp tục chiếm thị phần cao trong thủy sản xuất khẩu của Việt Nam thì thị phần này vẫn đang giảm dần. Ta có nhiều mặt hàng đang tăng dần thị phần, nhất là cá các loại.

2/ Sản xuất tôm sú sản phẩm tôm nuôi chủ lực của ta trên thế giới đang giảm. Thái Lan và Trung Quốc là hai nhà sản xuất tôm lớn nhất nhì đang tập trung chú trọng vào tôm chân trắng. Trong khi thị trường tiêu thụ tôm chân trắng lại hạn chế hơn nhiều so với tôm sú.

3/ Dù muốn gì đi chăng nữa, Mỹ cũng không thể không nhập khẩu tôm để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ rất lớn và còn tiếp tục lớn hơn của họ. Các nước nằm ngoài vụ kiện, mặc dù muốn tăng sản lượng để bù đắp nhưng vẫn không có khả năng tăng nhiều trong ngày một ngày hai.

4/ Người Việt Nam còn được ăn rất ít tôm. Thực tế cho thấy, thị trường tôm nội địa cũng đang tăng trưởng rất nhanh và có xu hướng tiêu thụ ngày càng mạnh hơn các sản phẩm tôm cao cấp.

5/ Có khả năng các nước bị kiện chuyển hướng, gây cạnh tranh cao hơn ở các thị trường khác, song ngoài ấn Ðộ là nước cũng xuất khẩu chủ yếu là tôm sú, còn các nước khác phần lớn là tôm chân trắng, trong đó Thái Lan và Trung Quốc hai nước đứng đầu xuất khẩu tôm sang Mỹ có tỷ lệ tôm chân trắng lớn (Thái Lan là 50% sản lượng, Trung Quốc là 100%), do vậy khó cạnh tranh hơn trên thị trường tôm sú. Trong khi đó, chúng ta vẫn có thị trường Nhật Bản, thị trường các nước châu á truyền thống và thị trường EU đang tăng trưởng.

6/ Một điểm hạn chế rất lớn của tôm Việt Nam là giá thành sản xuất cao. Ðiều này có nhiều nguyên nhân, nhưng một số nguyên nhân cơ bản là chưa chủ động nguồn tôm bố mẹ cho sản xuất giống, chưa chủ động sản xuất thức ăn và hóa chất, kỹ thuật nuôi còn thấp. (Giá thành tôm nuôi của Việt Nam trung bình khoảng 50 60 nghìn đồng/kg. Trong khi giá thành của Thái Lan là 3,2 USD, của Trung Quốc là 2,4 USD).

Như vậy, nếu đa dạng hóa đối tượng nuôi, hạn chế tốc độ tăng trưởng nuôi tôm, tích cực chuyển sang những phương thức nuôi an toàn hơn, hiệu quả hơn với giá thành dễ chấp nhận hơn và đa dạng hóa thị trường tiêu thụ, đồng thời chú trọng khai thác tốt thị trường nội địa thì chúng ta cũng sẽ gặp ít khó khăn hơn trong việc tiêu thụ tôm. Vấn đề quyết định nhất vẫn là khắc phục những hạn chế đã nêu để hạ giá thành nuôi tôm và bảo đảm vệ sinh, an toàn, chất lượng sản phẩm. Ðây là những vấn đề chúng ta đang nỗ lực và phải nỗ lực hơn nữa để giải quyết.

 

Thái Thanh Dương