Free Web Hosting by Netfirms
Web Hosting by Netfirms | Free Domain Names by Netfirms


Ðã có kháng sinh thay thế Chloramphenicol & Nitrofurans dùng trong nuôi trồng thủy sản

TCTS 2/2004


Ngày 22/1/2002, Bộ Thủy sản đã ban hành Quyết định số 01/2002-BTS trong đó cấm sử dụng một số hoá chất, chất kháng sinh trong sản xuất kinh doanh thủy sản để sản phẩm đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho sức khoẻ người tiêu dùng và đạt tiêu chuẩn xuất khẩu. Trong danh mục các loại hóa chất, chất kháng sinh không được phép sử dụng theo quyết định này, có chloramphenicol và nitrofurans. Ðây cũng là 2 trong số những loại thuốc và hoá chất mà EU và FDA (Hoa Kỳ) không cho phép sử dụng.

Trong thực tế sản xuất, việc sử dụng hóa chất, chất kháng sinh để kiểm soát môi trường, phòng ngừa dịch bệnh là điều khó tránh khỏi. Song, để đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, việc không cho phép dùng các loại hóa chất, chất kháng sinh có ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ người tiêu dùng cũng là điều bắt buộc. Do đó, việc nghiên cứu tìm các loại hóa chất, chất kháng sinh có thể thay thế các hóa chất, chất kháng sinh bị cấm sử dụng là một đòi hỏi tất yếu của người làm nghề nuôi trồng thủy sản.

Thời gian qua, ngành thủy sản đã đầu tư triển khai thực hiện đề tài chọn lọc và thử nghiệm nhằm tìm ra một vài loại kháng sinh có thể thay thế chloramphenicol và nitrofurans trong ương nuôi ấu trùng tôm sú, cá tra và cá ba sa.

Nhóm tác giả của đề tài, do chị Lý Thị Thanh Loan làm chủ nhiệm, đã thu các mẫu cá tra, cá ba sa nuôi ao và nuôi bè tại các vùng nuôi ở huyện Hồng Ngự (Ðồng Tháp), Mộc Hóa (Long An), tỉnh An Giang, Vĩnh Long để phân lập các vi khuẩn gây bệnh ở chúng. Kết quả cho thấy các loài vi khuẩn gây bệnh trên các đối tượng này chủ yếu là nhóm Aeromonas, như A.hydrophilla, A.caviae, A.sobria và một số loài khác như Pseudomonas fluorescens, Edwarsiella tarda.

Với các mẫu ấu trùng tôm sú thu tại Bà Rịa Vũng Tàu và Cà Mau, cũng đã phân lập được các loài vi khuẩn gây bệnh đều thuộc nhóm Vibrio, như V.alginolyticus, V.harveyi, V.parahaem-olyticus , là những loài cảm nhiễm phổ biến ở các loài tôm nuôi thuộc họ Penaeidae tại Châu á và nhiều vùng khác trên thế giới.

Như vậy, hầu hết các nhóm vi khuẩn gây bệnh trên ấu trùng tôm sú và cá tra, cá ba sa nuôi chủ yếu là nhóm trực khuẩn gram âm. Từ đó, dẫn tới cơ sở lý luận để lựa chọn các loại kháng sinh thay thế phải là loại có thể kháng các nhóm vi khuẩn gram âm, tuy cũng có một vài loại có cả khả năng kháng nhóm vi khuẩn gram dương.

Sau khi lựa chọn trên cơ sở đã nêu, các loại kháng sinh được chọn lựa để thay thế đã được thử nghiệm kháng sinh đồ (có so sánh với chloramphenicol và nitrofurans) trên nhóm vi khuẩn gây bệnh ở ấu trùng tôm sú và ở cá tra, cá ba sa. Dựa trên kết quả kháng sinh đồ, cùng với tham khảo khuyến cáo của các nước trên thế giới về sử dụng hóa chất, kháng sinh trong nuôi trồng thủy sản, nhóm tác giả đã đề xuất các kháng sinh thay thế là nhóm Tetracyclin, như : oxytetracyclin, tetracyclin, cholotracyclin và nhóm Sulfamid, như : sulfadimethoxin, sulfadiazin, sulfadimidin, kết hợp với trimethoprim. Ðây là các kháng sinh có phổ kháng khuẩn rộng, có khả năng kháng tốt với cả 2 nhóm vi khuẩn gây bệnh ở ấu trùng tôm sú cũng như cá tra, cá ba sa, và được hấp thu tốt qua đường tiêu hóa.

Các kết quả điều trị thử nghiệm sau đó cho thấy sau khi được điều trị bằng nhóm thuốc thay thế, cá nuôi phát triển và tăng trọng bình thường. Kiểm tra dư lượng thuốc trong cơ thịt cá bằng phương pháp sắc ký lỏng cao áp (HPLC) sau khi ngừng dùng thuốc 4 ngày cho kết quả dưới ngưỡng cho phép, chứng tỏ thời gian đào thải thuốc nhanh.

Một phác đồ sử dụng 2 nhóm kháng sinh này để điều trị bệnh cho cá tra, cá ba sa và ấu trùng tôm sú đã được đưa ra như sau :

+ Với cá tra, cá ba sa, để điều trị các bệnh nhiễm khuẩn với các biểu hiện đốm đỏ trên thân, mắt và hậu môn sưng đỏ, các vây bị rách, xuất huyết, hoại tử ... dùng :

- Nhóm Tetracyclin : Có thể dùng 1 trong 3 loại dưới đây đưa vào thức ăn với liều lượng :

Oxytetracyclin : 55 75mg/kg thể trọng/ngày.

Tetracyclin : 55 75 mg/kg thể trọng/ngày.

Chlotetracyclin : 12 25mg/kg thể trọng/ngày.

Dùng liên tục 5 7 ngày (tối đa 14 ngày). Ngưng dùng thuốc 4 tuần trước khi thu hoạch.

- Dùng Trimethoprim + Sulfamid (Sulfadiazin, Sulfadimidin, Sulfadimethoxin) tỷ lệ 1/5 (T/S) : 50mg/kg thể trọng/ngày.

- Dùng Sulfamid (Sulfadiazin, Sulfadimidin, Sulfadimethoxin) : 100mg/kg thể trọng/ngày. Tuy nhiên, nên dùng kết hợp Trimethoprim với một loại sulfamid để giảm lượng thuốc sử dụng và tăng khả năng kháng khuẩn.

- Dùng kết hợp Oxytetracyclin (OTC) với tổ hợp Trimethoprim + Sulfamid : OTC 37mg kết hợp với (T + S) : 25 30 mg/kg thể trọng/ngày.

+ Với ấu trùng tôm sú giai đoạn PL, để phòng trị bệnh phát sáng, dùng:

- OTC : 7,5-10g/m3 nước bể ương ấu trùng.

- Trimethoprim + Sulfamid (Sulfadiazin, Sulfadimidin, Sulfadimethoxin): 10g/m3 nước bể ương ấu trùng.

- OTC kết hợp với tổ hợp Trimethoprim + Sulfamid, liều lượng mỗi loại giảm một nửa so với dùng không kết hợp.

Như vậy, sau một thời gian chờ đợi, những người nuôi thuỷ sản đã có thể phần nào yên tâm về giải pháp sử dụng 2 nhóm kháng sinh thay thế cho các loại đã bị cấm dùng trong sản xuất kinh doanh thuỷ sản ở nước ta. Tuy nhiên, để đạt được hiệu quả cao, còn cần có phương pháp sử dụng đúng, kết hợp với các biện pháp quản lý tích cực môi trường nuôi và xử lý chúng khi xảy ra sự cố bệnh dịch, vì phần lớn các bệnh nhiễm khuẩn ở thủy sản nuôi đều xuất hiện trong điều kiện môi trường nuôi xấu. Bên cạnh đó, người nuôi thủy sản vẫn còn trông chờ vào việc sẽ có những loại thuốc được điều chế từ cây cỏ dễ kiếm, có tác dụng chữa bệnh cho tôm cá mà lâu nay bà con nuôi cá cũng đã từng sử dụng, hoặc những loại có thể thay thế các hoá chất diệt ký sinh trùng ở cá nuôi hiện đã bị cấm dùng . Câu trả lời xin dành cho các nhà nghiên cứu bệnh học thủy sản.

  Hoàng hà