|
|
|
Ấm no vùng mặn, ngọt
SGGP, 29/2/2004
Bình Đại là một trong ba huyện duyên hải của Bến Tre và dẫn đầu tỉnh về sản lượng nuôi trồng, đánh bắt thủy sản. Nhưng Bình Đại không chỉ có “vùng mặn” tăng trưởng mà còn có “vùng ngọt” phát triển bền vững và thành công trong việc ngày càng tạo nhiều cơ hội thoát nghèo cho các hộ nghèo ít đất hoặc không đất.
Bình Đại có 12.371ha nuôi thủy sản, trong đó có
1.551ha nuôi tôm công nghiệp – tăng gần 3 lần năm 2002. Diện tích,
qui mô nuôi thủy sản tăng nhanh do nhiều nguyên nhân: kích thích
của lợi nhuận, kỹ thuật chuyển giao về tận cơ sở… nhưng rõ
rệt nhất là hiệu quả của công trình cống đập Ba Lai. Ông
Nguyễn Hữu Lập, Chủ tịch UBND huyện cho biết, sau ngày vận hành
cống đập (30-2-2003), huyện quy hoạch lại các tiểu vùng. Những
làng muối cặp sông Ba Lai từ bến Thủ đến giáp xã Đại Hòa
Lộc do nồng độ mặn giảm đã chuyển sang nuôi tôm, chỉ còn
200ha muối ở Thạnh Phước. Đời sống diêm hộ chuyển đổi
sản xuất khởi sắc, những hộ còn làm muối cũng khá hơn do
sản lượng toàn huyện giảm 50%, giá muối tăng 10%.
Năm 2003, tôm nuôi toàn huyện đạt 7.437/14.205 tấn tổng sản lượng
thủy sản nuôi, gấp đôi năm trước. Cùng với 47.172 tấn thủy
sản đánh bắt, Bình Đại dẫn đầu Bến Tre về thế mạnh kinh
tế biển. Lợi nhuận từ con tôm sú hấp dẫn đến mức người
nuôi bỏ ngoài tai mọi lời khuyến cáo về con giống, thời tiết,
môi trường, vệ sinh ao nuôi… Vụ nghịch 2003, 310ha tôm bị bệnh
đốm trắng làm 293 hộ xiểng niểng. Tình trạng lén lút bán tôm
giống chưa qua kiểm dịch vẫn xảy ra. Ông Hữu Khoa, cán bộ
huyện nói: “Huyện có đủ lực lượng kiểm dịch tôm giống, nhưng
vẫn để lọt lưới vì người nuôi âm thầm đặt hàng với người
cung cấp giống. Tôm giống loại này là hàng dạt, khả năng
nhiễm bệnh cao, giá rẻ. Người bán lãi khoảng 10 triệu đồng/xe,
nếu bị phát hiện chỉ bị phạt tối đa 4 triệu đồng, đàng nào
họ cũng lãi mà huyện thì không có thẩm quyền rút giấy phép
kinh doanh”. Vụ tôm chính 2004, huyện định ngày 1-3 là ngày thả
giống đồng loạt. 5 năm trước, Bình Đại có trên 20% hộ nghèo
(tập trung ở vùng mặn) nay chỉ còn 6,14% hộ nghèo – đặc biệt
hộ nghèo là gia đình chính sách chỉ có 3,52%. Nước mặn đã làm
nên đất vàng.
Nuôi tôm cần diện tích lớn, vốn dồi dào, kỹ thuật nuôi giỏi. Nhiều người nông dân duyên hải Bình Đại không hội đủ các điều kiện vừa nêu. Làm sao giúp nông dân ít đất giữ được đất, vừa nuôi tôm công nghiệp được là điều không thể, nhưng xã Bình Thắng đã biến thành có thể. Hơn thế, người nghèo không đất của Bình Thắng còn có… cổ phần trong các dự án nuôi tôm công nghiệp. Xã chủ động mời gọi hơn 10 doanh nghiệp, cá nhân đã về Bình Thắng đầu tư nuôi tôm công nghiệp. Nông dân cho doanh nghiệp thuê đất (7 triệu đồng/ha/năm). Doanh nghiệp trả trước 5 năm. 35 triệu đồng đó, nông dân giao lại cho doanh nghiệp với hình thức tham gia cổ phần. Nông hộ không đất, xã bảo lãnh cho vay tín chấp. Tiền vay được ngân hàng chuyển thẳng cho doanh nghiệp. Vậy là người ít đất và không đất đều được hưởng lợi từ nuôi trồng thủy sản. Ông Nguyễn Trung Hiếu, Bí thư xã nói: Người nghèo trở thành một cổ đông. Họ được chia lợi nhuận, được làm việc để tăng thu nhập. Họ bảo vệ đất đai, nguồn nước, con tôm với tư cách người làm chủ. Năm 2001, Bình Thắng có 23% hộ nghèo. Năm 2003 còn 6%. Năm 2004 Bình Thắng quyết tâm giảm tỉ lệ hộ nghèo xuống dưới 3% để được là xã đầu tiên của Bình Đại được công nhận xóa nghèo. Nông dân Nguyễn Văn Đang (ấp 6) tự tin: “Tui nghèo từ lúc sanh ra, còn truyền nó cho đời con cháu nữa, nhưng bây giờ tui tin năm nay sẽ chia tay vĩnh viễn với cái nghèo”.
Nhưng Bình Đại không chỉ có biển. Công trình đại
thủy nông Ba Lai đã góp thêm cho toàn tỉnh Bến Tre lời giải về
bài toán quy hoạch, xác định rõ nét hơn kinh tế tiểu vùng nước
mặn, lợ và ngọt. Bình Đại có 12/20 xã, thị trấn thuộc tiểu
vùng ngọt. Nhiều năm liền nước mặn xâm nhập vào tiểu vùng này
từ 3 - 6 tháng. Cây ăn trái èo ọt, lúa 1 vụ năng suất thấp. Bây
giờ Bình Đại làm lúa 2 vụ ăn chắc, trong đó có 1.700ha lúa cao
sản, 2.507ha vườn cây ăn trái, xây dựng được trại sản xuất
giống tôm càng xanh, cá nước ngọt, 772 trang trại của các nông
hộ đang sản xuất ổn định. Người dân vùng nuôi và đánh bắt
thủy sản giàu lên, người vùng nước ngọt cũng chuyển đổi cơ
cấu cây trồng - vật nuôi theo kịp nhu cầu thị trường. Đó là
một thành công. Thủy sản là mũi nhọn kinh tế, nhưng quy hoạch vùng
nuôi thủy sản nước mặn đi sau phong trào hộ dân nuôi tôm tự
phát cũng đang đặt ra cho Bình Đại một vấn nạn lớn: Chưa
chủ động được hệ thống ao đầm xử lý nước để khi xảy
ra dịch bệnh tôm thì “gom” nước có mầm bệnh vào diệt trùng,
làm sạch trước khi thải ra hệ thống thoát nước chung. Bên
cạnh đó, ý thức của người dân trong bảo vệ môi trường nước
chưa cao, nhiều người không làm theo sự hướng dẫn của cán bộ
kỹ thuật, thả giống vội vàng trong điều kiện thời tiết bất
lợi và khi ao nuôi chưa xử lý kỹ thuật tốt. Kiểm dịch gắt
gao, đưa cán bộ kỹ thuật về từng tổ sản xuất, thành lập các
tổ tự quản nhân dân để kiểm tra, bảo vệ nghiêm ngặt nhất
sự “an toàn” của môi trường nước, là những việc Bình Đại
đang triển khai trong vụ tôm chính vụ 2004.
NGUYỄN THỊ KỲ