|
|
|
Ninh Thuận - Triển vọng mô hình nuôi cá nước ngọt
Vasep, 27/12/2004
Điều kiện tự nhiên ở một số vùng của tỉnh Ninh Thuận khá thuận lợi cho nghề nuôi trồng thủy sản nước ngọt phát triển bởi có nhiều hệ thống kênh mương, hồ, đập và có nguồn nước bổ sung thường xuyên quanh năm từ thủy điện Đa Nhim.
Trong
những năm qua, phong trào nuôi cá nước ngọt chủ yếu là tự
cung, tự cấp thực phẩm tại chỗ, với quy mô gia đình nhỏ lẻ,
chưa tương xứng với tiềm năng mặt nước sẵn có, chưa trở thành
nghề sản xuất sản phẩm hàng hóa.
Nhằm
thúc đẩy phong trào nuôi cá nước ngọt trong tỉnh phát triển,
tận dụng hết tiềm năng mặt nước, giải quyết việc làm, tăng
thu nhập cho bà con nông dân, giải quyết nhu cầu thực phẩm tại
chỗ, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa, đồng
thời cũng nhằm đa dạng hóa các đối tượng nuôi thủy sản,
Trung tâm Khuyến ngư tỉnh đã xây dựng chương trình hỗ trợ
giống cá nước ngọt và triển khai thực hiện trong năm 2004. Tham
gia mô hình có 109 hộ, là những đoàn viên, hội viên của các
tổ chức đoàn thể với số lượng và chủng loại cá giống hỗ
trợ là 610.000 con (trong đó cá rô phi 400.000 con, cá chép 100.000
con, cá chim trắng 60.000 con và cá trê 50.000 con).
Qua
kiểm tra khảo sát ban đầu, hầu hết các hộ nuôi đều tuân
thủ các yêu cầu kỹ thuật của Trung tâm Khuyến ngư hướng
dẫn. Sau 75 ngày nuôi, cá sinh trưởng, phát triển khá tốt: Cá
chim trắng trọng lượng trung bình 160gam/con, tỷ lệ sống ước đạt
90%; cá trê lai trọng lượng trung bình 130gam/con, tỷ lệ sống ước
đạt trên 70%; cá rô phi trọng lượng trung bình 140gam/con, tỷ lệ
sống trên 95%; cá chép trọng lượng trung bình 150gam/con, tỷ lệ
sống trên 90%.
Theo
nhận định bước đầu của ngành chuyên môn và bà con thực
hiện mô hình nuôi cá nước ngọt, thì đa số cá nuôi đạt tốt,
cá phát triển bình thường, tỷ lệ sống cao, không bị dịch
bệnh, kỹ thuật nuôi đơn giản, thức ăn dễ mua, giá rẻ, hoặc
tự sản xuất chế biến cho cá ăn. Vì vậy triển vọng mô hình
nuôi cá nước ngọt đã tạo ra phong trào nuôi cá của tỉnh nhà
ngày càng phát triển, góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập cho bà
con, đa dạng hóa đối tượng nuôi, khai thác được tiềm năng
mặt nước sẵn có, phát triển thêm diện tích ao mới theo mô hình
VAC.
Trong
quá trình triển khai chương trình hỗ trợ giống cá nước ngọt
cho đồng bào miền núi, bên cạnh những mặt tích cực đạt được,
vẫn có một số hạn chế như: Diện tích mỗi ao nuôi quá nhỏ (dưới
500m2) chiếm đa số, chưa đảm bảo đầy đủ các yếu tố về độ
sâu, nguồn nước cấp v.v...
Chủ
hộ nhận giống nuôi chưa nắm vững quy trình kỹ thuật từ khâu
cải tạo ao đìa, chăm sóc quản lý, cho ăn và một phần tâm lý
lo lắng của bà con là tiêu thụ sản phẩm.
Thiết
nghĩ, đây là một chương trình mang tính xã hội thiết thực, giúp
cho người lao động có thêm việc làm, tăng thêm nguồn thực
phẩm, tăng thu nhập cho bà con vùng sâu, vùng xa, nên cần duy trì
hỗ trợ giống cá nước ngọt hằng năm. Trung tâm Khuyến ngư
tỉnh cần xây dựng thêm những mô hình nuôi cá nước ngọt mang
lại hiệu quả kinh tế cao ở những nơi chưa phát triển để bà
con học hỏi kinh nghiệm. Sản xuất cá giống thử nghiệm để
cung cấp giống cá cho phong trào nuôi cá nước ngọt khi phát
triển ra diện rộng trong địa bàn tỉnh.
(NTNT)