Free Web Hosting by Netfirms
Web Hosting by Netfirms | Free Domain Names by Netfirms

Con tôm Việt Nam - một năm lận đận

Vasep, 24/12/2004

 

Vụ kiện bán phá giá tôm vào thị trường Mỹ đang đi đến hồi kết sau gần một năm đấu tranh dai dẳng. Các nhà chế biến, xuất khẩu và cả người nuôi tôm VN đều đang mong đợi một "biên phá giá" bằng 0 trong kết luận cuối cùng. Sau vụ kiện cá tra, ba sa, vụ kiện này một lần nữa là bài học cho các DN VN về đa dạng sản phẩm, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm thuỷ sản và việc phải thích ứng dần với "chính sách bảo hộ mậu dịch" ngày càng gia tăng từ các nước giàu.

Cả nước vì... kiện tôm

Vụ kiện chính thức được bắt đầu vào ngày 31.12.2003 khi Liên minh tôm miền nam nước Mỹ (SSA) đệ đơn lên Bộ Thương mại Mỹ (DOC) kiện tôm nhập khẩu từ VN và 5 nước khác (Trung Quốc, Thái Lan, Ấn Độ, Brazil và Ecuador) bán phá giá tôm vào thị trường này, viện lý do tôm nhập khẩu đã làm thiệt hại nghiêm trọng ngành tôm nước Mỹ. Một kịch bản tương tự vụ kiện cá ba sa nhập khẩu từ VN năm 2003. Bộ Thuỷ sản, Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thuỷ sản VN (Vasep) ngay từ đầu nhận định rằng, ảnh hưởng của vụ kiện đối với cá tra, cá ba sa rất lớn, song ảnh hưởng của kiện tôm sẽ lớn hơn nhiều lần bởi kim ngạch xuất khẩu tôm sang thị trường Mỹ năm 2003 lên đến gần 500 triệu USD. Hơn nữa do số lượng người tham gia lao động trực tiếp và gián tiếp trong ngành tôm lên tới 3,5 triệu người, hậu quả của một phán quyết không công bằng sẽ hết sức nặng nề. 

Ngày 17.2.2004, Uỷ ban Thương mại quốc tế Mỹ (USITC) kết luận sơ bộ việc nhập khẩu một số sản phẩm tôm từ VN và 5 nước còn lại gây thiệt hại và đe doạ gây thiệt hại cho ngành sản xuất tôm Mỹ. Chỉ chờ có vậy, vào rạng sáng ngày 7.7, DOC công bố mức thuế chống bán phá giá áp buộc cho 38 DN chế biến, xuất khẩu tôm VN, dao động từ 12,11% đến 93,13%. Uỷ ban tôm VASEP ngay lập tức lên tiếng phản đối và khẳng định quá trình đối chiếu với thực tế sản xuất ở VN cũng như nội dung khiếu kiện không đảm bảo tính trung thực. Mức áp thuế do đó mang tính áp đặt. Vasep và hãng luật đại diện cho VN tiếp tục gây sức ép đòi DOC phải tính toán và điều chỉnh hợp lý các mức thuế.

Hơn 2.500 nông dân đại diện cho 3,5 triệu người lao động liên quan đến ngành sản xuất tôm trên cả nước ký đơn phản đối Washington. Gần như đồng thời, thông qua Tổ chức ActionAid Vietnam, các đại biểu Quốc hội đại diện cho các địa phương có DN nuôi, chế biến và xuất khẩu tôm gửi thư kêu gọi các nghị sĩ Mỹ yêu cầu DOC xem xét và xử lý vụ kiện một cách khách quan.

Dưới những tác động này, phán quyết cuối cùng của DOC công bố ngày 1.12 đã thực tế hơn. Mức thuế chung cho các DN VN lúc này được kéo xuống còn 4,13 - 25,76%, thấp hơn rất nhiều mức thuế sơ bộ trong phán quyết sơ bộ. Vasep tiếp tục khẳng định "VN không bán phá giá tôm vào thị trường Mỹ" đồng thời đề nghị USITC xem xét khách quan mọi yếu tố và đi đến kết luận cuối cùng (dự kiến công bố ngày 31.1.2005) rằng, con tôm VN không gây hay đe doạ gây thiệt hại cho ngành tôm Mỹ.

Tác động và những điều chỉnh

Các tác động của vụ kiện tôm đối với con tôm VN xuất hiện ngay từ lúc SSA chưa chính thức nộp đơn kiện lên DOC vào cuối tháng 12.2003. Ông Nguyễn Văn Kịch - Chủ tịch Uỷ ban tôm VASEP tại thời điểm này cho biết, chỉ trong 9 tháng đầu năm 2003, các thông tin về vụ kiện khiến giá tôm bắt đầu giảm sút, các nhà nhập khẩu mua tôm dè dặt hơn, không mua dự trữ và đẩy rủi ro sang nhà sản xuất. Mức sụt giảm này làm các nhà xuất khẩu tôm VN thất thu trên 27 triệu USD.

Đối với mức thuế cuối cùng, theo ông Nguyễn Hữu Dũng - Tổng Thư ký Vasep, mặc dù mức thuế thấp hơn đáng kể so với phán quyết sơ bộ, song khó khăn đối với các DN VN chưa hết. Hơn nữa, mức thuế 5% có thể được coi là thấp nhưng với các áp lực cạnh tranh mạnh mẽ trên thị trường thế giới, mức chênh lệch này vẫn mang tính quyết định đối với việc các đối tác mua hàng của VN hay của nước khác. "So sánh với mức thuế Thái Lan phải chịu cao hơn VN, chúng ta chỉ có thể khẳng định rằng khả năng cạnh tranh của con tôm VN vào thị trường Mỹ vẫn còn" - ông Dũng nói.

Trong trường hợp VN thua kiện, ông Dũng cho rằng, các DN VN vẫn cần tập trung nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm, phát triển công nghệ chế biến và sản xuất các mặt hàng như tôm bao bột, tôm tẩm bột, phải chuẩn bị kế hoạch trước nếu thua kiện, chú trọng những mặt hàng như tôm tươi, tôm càng xanh có giá trị cao đồng thời không là đối tượng bị áp thuế; mở rộng thị trường sang các nước có tiềm năng tiêu thụ lớn khác trong khu vực Châu Âu và các thị trường Châu Á ngoài truyền thống khác. "Song cho dù mở rộng ra thị trường nào, VN luôn phải ghi nhớ bài học qua vụ kiện tôm này là cần tạo được mối liên hệ chặt chẽ giữa DN, người thu mua và người nuôi tôm, giữ vững uy tín cho sản phẩm của mình" - ông Dũng nói.

(NTNT)