Free Web Hosting by Netfirms
Web Hosting by Netfirms | Free Domain Names by Netfirms

Phát triển thủy sản khu vực ÐBSCL sẽ thực sự ổn định và có tổ chức

WAG, 24/12/2004

 

Sau nhiều lần tổ chức các đợt hội thảo bàn về giải pháp ổn định vùng nguyên liệu cá tra, ba sa ở một số tỉnh thành ÐBSCL, vào giữa tháng 12-2004, tại An Giang, Bộ Thủy sản đã tổ chức một hội nghị với quy mô lớn, tập hợp nhiều Bộ, ngành liên quan, các cơ quan nghiên cứu, các chuyên gia, doanh nghiệp trong và ngoài nước đang hoạt động trong ngành hoặc quan tâm đến lĩnh vực khai thác, chế biến thủy sản, nhằm đi đến thống nhất giải pháp hành động cho toàn vùng.

Với quyết tâm kiểm soát cho được số lượng và các tiêu chuẩn về chất lượng, đồng thời  xây dựng một thương hiệu cá tra, ba sa Việt Nam đủ mạnh để đối đầu trong bối cảnh thị trường được tiên liệu sẽ cạnh tranh quyết liệt trong vài năm nữa, Bộ Thủy sản  đã kêu gọi các Hiệp hội, doanh nghiệp tập trung thảo luận các vấn đề thực chất, từ khâu nuôi trồng, chế biến đến thâm nhập thị trường, lắng nghe chuyên gia các nước thu thập và san sẻ những kinh nghiệm nhằm tìm ra bước đi thích hợp đem lại sự phát triển bền vững cho cả khu vực ÐBSCL. Bộ trưởng Bộ Thủy sản Tạ Quang Ngọc còn nhấn mạnh rằng, thông qua hội nghị lần này, nhất thiết phải xây dựng được chương trình hành động cụ thể, nhằm giải quyết tốt hai vấn đề quy hoạch lẫn thương hiệu.

Theo thống kê toàn vùng, trong năm 2004, sản lượng cá tra, ba sa của các tỉnh ÐBSCL là hơn 300.000 tấn, được nuôi trồng trên diện tích khoảng 3.000 ha mặt nước.  Vụ  Kế hoạch - Tài chính (Bộ Thủy sản) cũng ước tính còn khoảng 32.000 ha mặt nước sông hồ, kênh rạch ở ÐBSCL có tiềm năng phát triển được nghề nuôi cá tra, đồng thời khả năng thị trường còn tiếp tục được mở rộng, trong đó, riêng EU cần đến 4 triệu tấn cá thịt trắng mỗi năm. Tất cả những thông tin này đã đem lại triển vọng hết sức tốt đẹp, làm cơ sở vững chắc cho việc mở rộng và nâng cấp ngành nghề sản xuất lên quy mô lớn, với mục tiêu đến năm 2010 đạt 1.000.000 tấn cá thương phẩm và kim ngạch xuất khẩu 800 triệu USD.

Do vậy, giải pháp được đề xuất là kể từ năm 2005, các địa phương phải xây dựng hoặc điều chỉnh quy hoạch chi tiết vùng nuôi, nắm được sản lượng và tiến độ thu hoạch, phối hợp một cách nhịp nhàng theo kế hoạch chung của toàn vùng, và chịu sự điều phối chung của Bộ Thuỷ sản. Ðể thuận tiện trong khâu tổ chức và quản lý, từng địa phương cần có ban điều hành để kịp thời xử lý các vấn đề phát sinh tại chỗ, đồng thời tăng cường vai trò quản lý cộng đồng, liên kết trách nhiệm của mỗi thành viên trong dây  chuyền sản xuất. Ðiều cần nhất và quan trọng nhất là công khai một cách minh bạch chuỗi giá trị để san sẻ một cách công bằng, hợp lý lợi nhuận đối với các tổ chức thành viên.

Về kỹ thuật và công nghệ nuôi, cần tiếp tục nghiên cứu và ứng dụng công nghệ mới từ khâu sản xuất giống, xây dựng quy phạm thực hành nuôi tốt (GAP) và thay thế thức ăn tự chế bằng thức ăn viên công nghiệp nhằm chuẩn bị  tiến đến quy mô sản xuất lớn. Công nghệ chế biến nên tạo ra thêm nhiều sản phẩm mới, cũng như ưu tiên cho việc xây dựng các nhà máy tiên tiến, hiện đại, để nâng công suất chế biến theo kịp tốc độ phát triển vùng nguyên liệu. Tăng cường đào tạo cán bộ kỹ thuật về  tất cả các lĩnh vực song song với việc bồi dưỡng, huấn luyện cho người nuôi các quy tắc hành xử phù hợp để tạo ra sản phẩm đáp ứng các tiêu chuẩn về chất lượng cũng như  đảm bảo vệ sinh môi trường.

Riêng giải pháp thị trường, bao gồm xây dựng, quảng bá thương hiệu  và tìm đầu ra cho sản phẩm, vấn đề được đề cập  là cần một tên gọi và thương hiệu mới, gây ấn tượng mạnh mẽ cho người tiêu dùng về một sản phẩm thực phẩm độc đáo của Việt Nam. Tên gọi được đề nghị  (và cần được nghiên cứu thực hiện)  là Pangasius, được hiểu chung cho cả hai loại cá tra và ba sa và được biểu thị bằng thương hiệu Top-Quality Pangasius. Tác giả đề xuất ý kiến này cũng cho rằng, bên dưới của thương hiệu, nếu cần, có thể kèm theo một chỉ dẫn địa lý để chỉ  rõ  nguồn gốc xuất xứ cá basa, nhằm tránh sự mai một của một loại cá quý hiếm, mà vẫn không hề làm giảm giá trị của cá tra, do tính thống nhất về thương hiệu sản phẩm vẫn được bảo đảm.

Những vấn đề nói trên cuối cùng đã được Bộ Thủy sản ghi nhận và đúc kết thành dự thảo chương trình hành động cho nghề cá toàn vùng, với những quy chế chặt chẽ, giúp cho việc kiểm soát trở nên thuận lợi nhằm hạn chế sự tự phát và hướng tới phát triển bền vững. Hy vọng trong năm 2005 và những năm tiếp theo, nghề cá  tại  ÐBSCL sẽ có hướng đi chung và có thể trở thành đòn bẩy nâng nền kinh tế cả khu vực vươn lên một tầm cao mới.

THANH NGUYÊN