Free Web Hosting by Netfirms
Web Hosting by Netfirms | Free Domain Names by Netfirms

Bộ trưởng Bộ Thủy sản Tạ Quang Ngọc: ĐBSCL với sản lượng 1 triệu tấn cá tra, ba sa vào năm 2010

Báo Cần Thơ, 21/12/2004

 

Hội nghị “Chất lượng và thương hiệu cá tra, cá ba sa Việt Nam” tuần rồi tại An Giang đã chọn thương hiệu cho hai loại cá này để tiếp tục mở rộng thị trường với qui mô nuôi một triệu tấn vào năm 2010. Chúng tôi đã phỏng vấn Bộ trưởng Bộ Thủy sản Tạ Quang Ngọc xung quanh vấn đề này.

Thưa Bộ trưởng, dựa vào đâu Bộ Thủy sản qui hoạch sẽ nuôi một triệu tấn cá tra và ba sa vào năm 2010?

- Từ nhiều thông tin bổ ích, khoa học, kinh nghiệm ta đã có cũng như kinh nghiệm nước ngoài mang đến, chúng ta sẽ phải xây dựng lộ trình cho thương hiệu cá tra, cá ba sa Việt Nam hợp với qui hoạch phát triển 5 năm tới của ngành thủy sản. Phải nhìn nhận một điều: Hướng phát triển của nghề nuôi và chế biến xuất khẩu cá tra, cá ba sa là khá rõ. Có thể là một triệu, hoặc trên dưới một triệu tấn, dựa vào sự phát triển của thị trường.

 Nhưng các tỉnh, thành  ĐBSCL, nơi mà năm nay nuôi được 300.000 tấn cá, đã đề nghị nâng lên tới 1,8 triệu tấn cá tra và ba sa vào năm 2010?

- Chúng tôi cũng rất mong muốn làm được như vậy. Nhưng lâu nay chúng ta vẫn làm theo kiểu: xuất khẩu được cho ai thì xuất khẩu, còn bao nhiêu thì để ăn. Lâu nay, chúng ta đầu tư là để bổ sung những gì thiếu trong tự nhiên, hiệu quả đầu tư chưa như mong muốn. Bây giờ, cần đầu tư lớn hơn và  hiệu quả đầu tư phải được tính toán đầy đủ. Vấn đề quan trọng là từ nay, phải làm cho sự tăng trưởng của nghề nuôi và chế biến xuất khẩu cá tra, cá ba sa biến thành lợi ích về kinh tế - xã hội của đất nước, mà cụ thể phải cải thiện được đời sống vật chất, tinh thần của người nông dân và nhà chế biến.

Thưa Bộ trưởng, phải “tiêu chuẩn hóa” như thế nào đối với việc phát triển một triệu tấn cá tra, ba sa trong điều kiện nuôi và chế biến phân tán như hiện nay?

- Làm việc gì bây giờ cũng phải đặt ra “thước đo” rõ ràng và  phải vận động mọi người làm theo thước đo đó. Với cá tra, cá ba sa hay với người nuôi thì cái “bản chất nông nghiệp” của nó là rất đặc trưng, nó gắn với người nông dân Việt Nam. Cho nên việc xác định thương hiệu cho cá tra, ba sa có khác.

+ Thứ nhất, đó là thực phẩm nên  thương hiệu phải gắn với vấn đề chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm cho con người. Với đặc điểm này thì dù là tiêu chuẩn của châu Âu, của Mỹ, Nhật hay của bất cứ nước nào trong thế giới toàn cầu hóa bây giờ, ta đều phải đáp ứng an toàn vệ sinh thực phẩm.

+ Thứ hai, thương hiệu đó vừa bảo vệ sản phẩm của ta vào thị trường thế giới vừa phải bảo vệ được lợi ích của người nông dân Việt Nam. Cho nên, phải sản xuất, thu hoạch, chế biến theo những tiêu chuẩn nhất định. Phải có sự tổ chức, liên kết, hướng dẫn để không còn cảnh tự phát mạnh ai nấy làm. Bà con phải hiểu, thương hiệu cá tra, cá ba sa của ta gắn liền với một chuỗi giá trị gắn kết từ con giống, môi trường nước, thức ăn, thu hoạch, chế biến... Tất cả cái đó chúng ta phải kiểm soát được theo tiêu chuẩn chung. Hay nói như Giám đốc Sở NN-PTNT  An Giang là phải tổ chức sao cho mọi người biết được, bất kể khâu nào của sản phẩm cá tra, cá ba sa, hễ được truy xuất nguồn gốc, đều không làm rủi ro cho thương hiệu của mình và chính cái thương hiệu này mới bảo vệ được quyền lợi của bà con.

Có ý kiến đề nghị Bộ Thủy sản phải là “nhạc trưởng” cho “cuộc chơi” này. Bộ trưởng nghĩ sao?

- Vấn đề này thuộc về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Bộ Thủy sản. Theo Nghị định 43 của Chính phủ thì tôi thấy việc này hoàn toàn phù hợp. Chỉ có một điều, là “nhạc trưởng” của một chùm rất nhiều các vấn đề như thế này thì cái quan trọng hơn là phải có sự phân cấp giữa Bộ Thủy sản với các địa phương. Nếu không phân cấp cho địa phương, chúng tôi không làm được.

Xin cảm ơn Bộ trưởng!

HUỲNH KIM (thực hiện)

 

MỤC TIÊU CỤ THỂ PHÁT TRIỂN CÁ TRA, BA SA VIỆT NAM

• Hình thành ngành sản xuất có tổ chức và đồng bộ
• Phát triển sản lượng nguyên liệu cân đối với độ mở thị trường, cung ứng ổn định quanh năm
• Giá ổn định hoặc ít thay đổi trong cả năm
• Chất lượng nguyên liệu và sản phẩm ổn định, ở tiêu chuẩn cao nhất của siêu thị quốc tế
• Kiểm soát chặt chẽ dư lượng hóa chất, có khả năng đáp ứng yêu cầu an toàn thực phẩm cao hơn
• Khả năng truy nguyên sản phẩm trong chuỗi sản phẩm
• Bảo đảm tiêu chuẩn quốc tế về bảo vệ môi trường
•Thực hiện trách nhiệm xã hội với cộng đồng

GIẢI PHÁP LÂU DÀI

• Tiêu chuẩn hóa: Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn đồng bộ từ cá bố mẹ đến xuất khẩu, đáp ứng yêu cầu cao nhất của hệ thống bán lẻ thế giới, tương đương với EUREPGAP và BRC
• Chuỗi giá trị minh bạch: Thỏa thuận cộng đồng về khung lợi nhuận từng khâu, công khai, cùng hưởng lợi hợp lý và chia sẻ rủi ro
• Xây dựng thương hiệu: Chung cho cộng đồng với các dấu hiệu chất lượng: “Top-Quality Pangasius From Vietnam” và “Chỉ dẫn địa lý” hoặc “AOC” cho cá Ba sa
• Tổ chức cộng đồng: Hình thành tổ chức tự nguyện cam kết thực hiện hệ thống tiêu chuẩn thống nhất gắn với quyền sử dụng các dấu hiệu chất lượng và thương hiệu chung, cùng phát triển thị trường
• Thiết lập cơ chế tự điều tiết: 4 bên (Nhà nước - Hiệp hội – Doanh nghiệp – Nông dân) thảo luận nhằm đạt đồng thuận về sản lượng nguyên liệu cân đối với độ mở thị trường cho từng thời gian.


BIỆN PHÁP TRƯỚC MẮT

• Đăng ký tất cả các cơ sở sản xuất cá tra, cá ba sa
• Người nuôi ký hợp đồng với nhà chế biến về sản lượng, thời điểm thu hoạch, chất lượng và qui cách cá
• Hỗ trợ lập và tăng năng lực tổ chức cho cộng đồng nuôi
• Thiết lập hệ thống thông tin sản lượng, giá cả, thị trường
•Xây dựng và ban hành các tiêu chuẩn cao (tự nguyện)
• Xác lập mức chi phí và lợi nhuận hợp lý của từng khâu
• Xây dựng các biểu trưng và tiêu chuẩn dấu hiệu chất lượng
• Tổ chức các trại nuôi thí điểm thực hiện tiêu chuẩn cao
• Thí điểm hệ thống truy nguyên sản phẩm trong chuỗi sản xuất
• Đào tạo, tăng cường năng lực cho các sở, hội, nông dân

Nguồn: Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP)