Free Web Hosting by Netfirms
Web Hosting by Netfirms | Free Domain Names by Netfirms

Những giải pháp cần và đủ cho sự tăng trưởng bền vững ngành thủy sản An Giang năm 2005

WAG, 15/12/2004

 

Nuôi trồng thủy sản ở An Giang năm2004 tiếp tục phát triển khá mạnh góp phần quan trọng cho giá trị xuất khẩu của An Giang năm 2004 lên đến 115/250 triệu USD (44.000tấn thành phẩm), với tổng sản lượng xấp xỉ 153.000 tấn. Trong đó cá tra 124.500 tấn, basa gần 2.000 tấn. Tương đương số lượng bè đang thả cá là 3.500 cái, hồi phục tăng 300 cái; diện tích thả nuôi là 1.640 ha, tăng 515 ha (trong đó, 190 ha tôm càng xanh, 225ha cá tra). Diện tích đăng quầng cũng tăng hơn 05 lần (từ 20ha) so cùng thời điểm điều tra năm 2003. Tôm càng xanh được nuôi trên 560 ha (Thoại Sơn xấp xỉ 400ha, Châu Phú 86 ha và còn lại một số huyện khác).

Có thể nói rằng tình hình năm 2004  là sự hồi phục công lực của người nuôi sau những khó khăn, vất vả và tình hình bức phá vươn lên của các doanh nghiệp so với năm 2003. Vậy, chúng ta sẽ phải làm gì để nuôi trồng thủy sản An Giang tiếp tục phát triển bền vững trong năm 2005 và một số năm trước mắt làm tiền đề cho thực hiện chiến lược phát triển nông thôn và chiến lược thị trường đến năm 2020 ?

 Năm 2005 mục tiêu sản lượng nuôi trồng thủy sản nước ngọt được ngành Nông nghiệp tỉnh ta xác định từ 170.000-190.000 tấn, theo hướng chất lượng ngày càng tốt hơn và giá thành cạnh tranh hơn. Theo đó mục tiêu đạt kim ngạch xuất khẩu là trên 150 triệu USD, sản lượng chế biến thành phẩm xuất khẩu trên 50.000 tấn, chú trọng hơn nữa gia tăng sự xâm nhập hàng giá trị gia tăng ra thị trường nước ngoài với giá trị ngày càng tăng và càng chính quy hơn. Chú trọng đặc biệt các giải pháp hiệu quả để nâng tỷ trọng tiêu thụ tất cả các chủng loại thủy sản trong thị trường nội địa.

Nói về những cản ngại và nguy cơ nhận ra trong năm 2004, xin đề xuất và nhấn mạnh thêm một số giải pháp :

1- Việc phát huy tốt, khai thác những thuận lợi của năm 2004 để tiếp tục tác động hạn chế những cản ngại và nguy cơ đã thấy được  bằng việc ráo riết có biện pháp tích cực và thực thi có hiệu quả là cách làm tốt nhất hướng  phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững, trong đó có việc ngăn chặn và hạn chế sự lặp đi, lặp lại trồi sụt của giá cả bất lợi cho người nuôi. Cũng cần nêu lại một đoạn  thông điệp của Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Hoàng Việt tại hội nghị phát triển bền vững cá tra, basa các tỉnh ÐBSCL và Bộ Thủy sản ngày 4-11-2004 tại An Giang:”Thông điệp của chúng ta, là nói với chúng ta và nói với nhân dân và xã hội ÐBSCL rằng: Chúng ta sống trong cơ chế thị trường việc giá cả lên xuống là bình thừơng, vấn đề là nguyên nhân của nó và cách xử lý phù hợp, khôn ngoan. Chúng ta phải có sự liên kết 4 Nhà và phải thực chất hơn, mà hạt nhân của nó là sự liên kết giữa vùng nuôi và khu vực chế biến xuất khẩu. Nhà nước tham gia liên kết là để đảm bảo lợi ích cho nền kinh tế, chứ không chỉ vì lợi ích của người nuôi hoặc nhà chế biến”.

2- Phối hợp và liên kết toàn diện với các tỉnh ÐBSCL, đặc biệt là sớm vận hành và thực hiện hệ thống thống kê thông tin thủy sản liên vùng càng sớm càng tốt, chính đây là một cách thiết thực để Nhà nước, nhà quản lý tham gia điều hành tình trạng khủng hoảng cũng như điều hành toàn diện sự phát triển bền vững. Thay vì chúng ta điều hành kinh tế giống như câu chuyện “người mù tả voi”.

Chủ động đề xuất quy chế và cơ chế điều hành để được cộng đồng các tỉnh ÐBSCL và Bộ Thủy sản thông qua, hoặc một cách vận hành khác, nhằm thúc đẩy sự liên kết vùng đi vào thực tế và  thực chất.

3- Triển khai tiếp tục chương trình nuôi an toàn chất lượng cho 60.000 ngư dân và lao động ngư nghiệp theo phương thức xã hội hóa, làm tiền đề cho bước đột phá  nuôi theo tiêu chuẩn SQF1000 và nuôi sinh thái. Trong đó bao hàm việc chuyển giao nhanh và hiệu quả các kỹ thuật lẫn kỹ năng sản xuất từ khâu giống đến khâu nuôi trồng theo hướng chất lượng hiệu quả và giá thành cạnh tranh.

4- Triển khai tiếp tục mạnh mẽ và thực chất hơn Chỉ thị số 07 và Công điện số 420CP-NN của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý thuốc kháng sinh và hóa chất; Quyết định số  894, ngày 25-5-2004 của UBND tỉnh về chăn nuôi gia súc, gia cầm và thủy sản và đăng ký sản lượng sản xuất hàng hóa và Công văn liên ngành số 623 của Sở Nông nghiệp và PTNT An Giang  và Sở Tài nguyên và Môi trường về đăng ký tiêu chuẩn môi trường.

5- Trên cơ sở tổng kết rút kinh nghiệm quản lý chất lượng giống liên vùng, sẽ tiếp tục thỏa thuận liên kết quản lý chất lượng thức ăn thú y thủy sản và đề xuất hình thành mạng lưới cung ứng  nguyên liệu thức ăn có tổ chức. Song song với quy hoạch tạo các điều kiện ưu đãi hơn để phát triển công nghiệp thức ăn thủy sản  cho các thành phần kinh tế đầu tư theo yêu cầu.

6- Các cấp, các ngành phối hợp chặt chẽ với Hiệp hội AFA, hỗ trợ nhiều mặt hơn và cùng với hiệp hội AFA phát triển nhanh hội viên, các tổ chức của hội và các tổ chức hợp tác kinh tế như HTX, tổ hợp tác, hộ trang trại,... vai trò của Hiệp hội AFA là đặc biệt quan trọng, là không thể thiếu trong sự phát triển thủy sản bền vững ở An Giang. Vai trò chính quyền UBND huyện, xã là cực kỳ đặc biệt trong lĩnh vực phát triển thủy sản bền vững, nằm trong một định hướng chiến lược xác định mũi nhọn thủy sản trong nền kinh tế An Giang. Kinh nghiệm đã cho thấy rằng: Cấp huyện trực tiếp tham gia chỉ huy phòng chống đạo ôn, thì năm nào đạo ôn cũng bị đẩy lùi, năng suất lúa được giữ vững, thậm chí còn nâng lên; cấp huyện, cấp xã tham gia chỉ huy chương trình  “3 giảm 3 tăng”,  “xã hội hóa công tác nhân giống lúa”  thì năng suất, chất lượng lúa không ngừng nâng cao.

Thành công nào cũng phải có giá của nó, thành công của việc triển khai các giải pháp khả thi để tăng trưởng thủy sản bền vững cũng đòi hỏi y như vậy. Chúng ta có quyền hy vọng phơi phới cho tương lai phát triển không ngừng của ngành Công nghiệp thủy sản An Giang.

B.G