|
|
|
Nuôi trồng thủy sản: Giống và quy hoạch là ưu tiên hàng đầu
VNECONOMY, 8/12/2004
Theo kế hoạch của Bộ Thủy sản, năm 2005 sẽ đưa diện tích nuôi trồng thủy sản (NTTS) lên 1,1 triệu ha (tăng 4,76% so với năm 2004), trong đó diện tích nuôi nước mặn, nước lợ là 630.000 ha, diện tích nuôi nước ngọt là 470.000 ha; đưa sản lượng NTTS và khai thác nội địa lên 1,5 triệu tấn, tăng 10,53% so với năm 2004 và chiếm 50% tổng sản lượng thủy sản.
Khắc phục những tồn tại về giống và quy hoạch được coi là ưu tiên hàng đầu để đầu tư theo hướng phát triển bền vững lĩnh vực NTTS không chỉ riêng của năm 2005.
Tuy nhiên, trong Báo cáo kiểm điểm sự chỉ đạo, điều hành năm 2004 và chương trình công tác năm 2005 của Bộ Thủy sản đã thừa nhận nhiều hạn chế, tồn tại trong lĩnh vực NTTS. Theo đó, việc quản lý nhà nước về giống thủy sản còn yếu, chất lượng giống không ổn định, chưa bảo đảm độ tin cậy cao, giống khi thừa khi thiếu, giá cả biến động; chất lượng kiểm dịch giống chưa cao. Đặc biệt, công tác quy hoạch còn hạn chế cộng với thiếu vốn đầu tư, do đó cơ sở hạ tầng cho NTTS, nhất là thuỷ lợi vẫn ít được cải thiện, dẫn tới rủi ro cho người nuôi.
Bên cạnh đó, "việc quản lý thức ăn, thuốc trừ bệnh, vật tư hoá chất và môi trường vùng nuôi bước đầu được chú trọng nhưng vẫn chưa được thực hiện tốt; chậm đưa vào sản xuất hàng hoá một số giống mới đã nghiên cứu có kết quả tại các viện nghiên cứu; chưa thực hiện được việc đa dạng hoá đối tượng nuôi phục vụ XK: đề án cá rô phi, nuôi cá hồ chứa, nuôi biển triển khai rất chậm"...
Bất cập trong quy hoạch với phát triển
Theo các chuyên gia kinh tế thủy sản, do quy hoạch phát triển ngành cũng như quy hoạch phát triển sản phẩm không theo kịp chuyển dịch cơ cấu kinh tế và diễn biến của thị trường, vì vậy hiện tượng phát triển thủy sản một cách tự phát còn xảy ra ở một số nơi, ảnh hưởng đến môi trường và phát triển bền vững.
Tại một số vùng nuôi, dịch bệnh phát sinh lan rộng với tốc độ nhanh, đặc biệt là các tỉnh Nam Trung Bộ và ĐBSCL; và mặc dù Bộ thủy sản đã phối hợp với các địa phương chỉ đạo kiên quyết, kịp thời, khống chế được dịch bệnh, hạn chế tốc độ lây lan, nhưng cũng đã ảnh hưởng lớn đến khả năng cung cấp nguyên liệu cho XK cũng như hiệu quả và thu nhập của người nuôi tôm.
Trong năm 2004, Bộ thủy sản đã hoàn thành xây dựng Chương trình phát triển giống thủy sản đến năm 2010 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Nhưng có lẽ, phải mất một vài năm nữa thì tình hình khan hiếm giống, tăng giá con giống vào mùa vụ mới có thể được cải thiện. Do thiếu giống, cộng với việc kiểm dịch yếu kém, nên cũng là một nguyên nhân chính dẫn đến dịch bệnh trong NTTS.
Để NTTS mang lại hiệu quả kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái bền vững, đảm bảo đời sống của nhân dân, Bộ thủy sản cho biết, sẽ chỉ đạo những biện pháp sau:
Trước hết chỉ đạo rà soát, điều chỉnh bổ sung quy hoạch NTTS: quy hoạch phải phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của vùng;
Đầu tư hợp lý hơn cho CSHT, trong đó có hệ thống thủy lợi, hạ tầng vùng chuyển đổi, hệ thống giống, hạ tầng một số vùng nuôi thủy sản công nghiệp;
Đầu tư xây dựng và nâng cao năng lực hoạt động của các trung tâm quan trắc và cảnh báo môi trường tại 3 vùng trọng điểm để thông tin kịp thời diễn biến môi trường các vùng nuôi;
Tăng cường quản lý mùa vụ nuôi, quản lý chất lượng giống, quản lý sử dụng thuốc kháng sinh và hóa chất;
Tăng cường các hoạt động khuyến ngư để tập huấn công nghệ mới, xây dựng các mô hình trình diễn, các hoạt động hội thảo đầu bờ, tham quan điểm mô hình có hiệu quả...
Cơ sở cho phát triển bền vững
Trong kế hoạch năm 2005, về lĩnh vực NTTS, ngành thủy sản sẽ đẩy nhanh việc triển khai quy hoạch thủy lợi cho NTTS, làm cơ sở cho đầu tư hoàn thiện hệ thống thủy lợi phục vụ NTTS; rà soát, xây dựng quy hoạch phát triển các sản phẩm chủ lực của ngành gắn với lợi thế của từng vùng và khả năng tiêu thụ sản phẩm như quy hoạch nuôi cá rô phi, cá tra, ba sa, quy hoạch nuôi hải sản; đồng thời xây dựng "quy hoạch, kế hoạch đào tạo cán bộ kỹ thuật (kể cả đào tạo ở nước ngoài) để có cán bộ đầu ngành về giống thủy sản" theo Quyết định số 103/2000/QĐ - TTg và QĐ số 112/2004/QĐ - TTg.
Bên cạnh đó, tiếp tục thực hiện đa dạng hoá các đối tượng nuôi phục vụ XK, ngoài đối tượng nuôi có sản lượng lớn hiện nay là tôm sú, cá tra, ba sa, cần đẩy mạnh phát triển nuôi cá rô phi đơn tính, tôm he, tôm thẻ chân trắng ở những vùng có điều kiện tự nhiên thích hợp; nuôi biển tập trung vào nuôi cá song, tôm hùm, ghẹ, cá giò và nhuyễn thể.
"Muốn vậy, cần thực hiện xã hội hoá sản xuất các loại giống thủy sản đủ cung cấp cho nuôi hàng hoá theo đúng mùa vụ; đồng thời cần có biện pháp nâng cao chất lượng con giống ngay trong quá trình lựa chọn giống bố mẹ; tăng cường quản lý, kiểm tra, kiểm soát chất lượng con giống trước khi đưa ra cung cấp cho người nuôi", một chuyên gia nhận định.
Đồng thời, Bộ Thủy sản cũng khẳng định sẽ tăng cường công tác quản lý thuốc kháng sinh, chế phẩm sinh học, hoá chất trong nuôi trồng thủy sản; khẩn trương triển khai việc đánh số, quản lý vùng nuôi;
Hướng dẫn cho dân thực hiện tiêu chuẩn vùng nuôi an toàn, làm tiền đề cho việc truy suất nguồn gốc sản phẩm; áp dụng công nghệ nuôi sạch và có các biện pháp quản lý môi trường vùng nuôi;
Theo dõi kịp thời các diễn biến bất thường phát sinh dịch bệnh để có các biện pháp phòng trừ hữu hiệu;
Thực hiện đa dạng hoá các hình thức nuôi thủy sản, bao gồm nuôi sinh thái, nuôi thâm canh, nuôi bán thâm canh, nuôi thủy sản kết hợp với lúa, với rừng và phát triển mạnh nghề nuôi hải sản trên biển: trong đó kết hợp tôm - lúa, tôm - rừng khoảng 150.000 ha thuộc bán đảo Cà Mau, nuôi tôm công nghiệp khoảng 35.500 ha (5,6% diện tích nuôi mặn, lợ).
Dự kiến, nhu cầu vốn đầu tư xây dựng cơ bản của ngành thủy sản năm 2005 sẽ lên tới 5.384,66 tỷ đồng.
Về phần vốn do Bộ Thủy sản quản lý, trong số 5,5 tỷ đồng cho thiết kế quy hoạch sẽ tập trung cho nhiều DA về NTTS:
Quy hoạch thủy lợi phục vụ NTTS vùng Nam Trung Bộ, quy hoạch nuôi tôm nước lợ, nuôi cá biển, nuôi rô phi, điều chỉnh quy hoạch nuôi cá tra và ba sa...;
Trong số 6,6 tỷ đồng vốn chuẩn bị đầu tư: DA Trung tâm dạy nghề NTTS Sóc Trăng, Trại thực nghiệm chuyển giao công nghệ NTTS của ĐH Cần Thơ và trường Trung học kỹ thuật nghiệp vụ thủy sản II, 4 vùng sản xuất giống thủy sản tập trung tại Quảng Nam, Cà Mau, Bạc Liêu, Kiên Giang;
Trong số 4,5 tỷ đồng vốn chuẩn bị thực hiện DA: Trung tâm quan trắc cảnh báo môi trường và phòng ngừa dịch bệnh thủy sản miền Bắc, miền Trung, Trại thực nghiệm chuyển giao công nghệ NTTS nước ngọt, vùng nuôi tôm Tiền Hải;
Trong số 273,8 tỷ đồng vốn thực hiện DA: Trung tâm quốc gia giống hải sản miền Bắc, miền Trung, Nam Bộ, Trung tâm quốc gia giống thủy sản nước ngọt Nam Bộ, miền Trung, vùng sản xuất và kiểm định tôm sú giống Cam Ranh, DA trồng rừng vùng nuôi tôm công nghiệp Kiến Thuỵ...
Bên cạnh đó, nguồn vốn do địa phương dành cho NTTS cũng rất lớn, bao gồm 502,9 tỷ đồng vốn ngân sách hỗ trợ đầu tư CSHT, 144,3 tỷ đồng vốn từ Chương trình phát triển giống thủy sản.
Về công tác khuyến ngư, Bộ Thủy sản cho biết, sẽ tập trung vào hướng dẫn, chuyển giao công nghệ cho dân sản xuất đại trà các loại giống mới thuộc đối tượng chủ lực phục vụ sản xuất hàng hoá cho XK (tôm thẻ chân trắng, cá giò, ghẹ, rô phi đơn tính...) nhằm đáp ứng yêu cầu cả về số lượng và chất lượng con giống, với giá thành hạ, nâng cao khả năng cạnh tranh cho sản phẩm thủy sản; hướng dẫn công nghệ nuôi sạch, sử dụng chất thay thế kháng sinh cấm sử dụng trong NTTS; du nhập công nghệ sản xuất các đối tượng mới, có giá trị kinh tế và thị trường tiêu thụ nhằm rút ngắn thời gian thực hiện chuyển đổi, đa dạng hoá đối tượng XK.
Đức Nguyễn