|
|
|
Nam Ðịnh chọn nuôi trồng thủy sản làm mũi nhọn
Nhân dân, 16/11/2004
Phát huy lợi thế 22.500 ha bãi bồi ven biển và hàng chục nghìn ha mặt nước vùng nội đồng, Nam Ðịnh xác định phát triển nuôi trồng thủy sản (NTTS) trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh. Theo đó NTTS ở địa phương này đang trở thành ngành sản xuất chính, từng bước chuyển sang sản xuất hàng hóa, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phân công lại lao động trong nông nghiệp, nông thôn.
Theo Giám đốc Sở Thủy sản Nam Ðịnh Lê Xuân Thủy, từ năm 2001 trở lại đây, ngành thủy sản của tỉnh có tốc độ tăng trưởng bình quân 17%/năm. Năm 2004, giá trị thủy sản ước đạt 650 tỷ đồng, trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 32 triệu USD. Có được kết quả đó là do ngành đã phát động phong trào NTTS sôi động trên mọi vùng, miền trong tỉnh. Nam Ðịnh hiện có hơn 14.000 ha NTTS, trong đó 6.400 ha vùng bãi bồi ven biển với con tôm sú là đối tượng nuôi chủ lực. Năm nay toàn tỉnh nuôi thả hơn 400 triệu con tôm sú giống (loại P15) trên diện tích 4.500 ha, với gần 2.000 hộ dân tham gia, thu hút hàng chục nghìn lao động. Sản lượng tôm sú ước 3.200 tấn trị giá hơn 300 tỷ đồng, chiếm một nửa tổng giá trị sản lượng NTTS cả năm. Các vùng nuôi tôm sú theo hình thức bán thâm canh, thâm canh có năng suất 1-4 tấn/ha/năm.
Công ty Viễn Ðông nuôi thâm canh hơn 30 ha tôm sú ở vùng bãi bồi Ðông Nam Ðiền (Nghĩa Hưng) đạt năng suất bình quân hai tấn/ha/năm, trong đó 25% diện tích đạt năng suất 3,7 tấn/ha/năm. Nhiều hộ dân ở các vùng dự án Xuân Hòa - Xuân Vinh (Xuân Trường), Bạch Long - Giao Phong (Giao Thủy), Nông trường Rạng Ðông (Nghĩa Hưng) thu lãi hàng trăm triệu đồng từ mùa tôm năm nay. Bên cạnh đó, ngư dân Nam Ðịnh còn nuôi thả 700 ha ngao, thu hoạch 8.500 tấn (vượt một nghìn tấn so với mức kế hoạch). Có hiện tượng vui là vào khoảng tháng 6, ở vùng bãi nuôi ngao thuộc huyện Giao Thủy, xuất hiện ngao giống với mật độ dày đặc trên diện tích khoảng 50 ha. Các chủ vây nuôi ngao đã khai thác, thu lợi hàng chục tỷ đồng. Nghề nuôi ngao năm nay "được mùa, trúng giá", bà con rất phấn khởi.
Ở vùng nội đồng, ngoài những giống cá truyền thống như trắm cỏ, mè, chép..., mấy năm gần đây, nông dân Nam Ðịnh còn đưa mạnh hai loại giống có giá trị kinh tế cao vào nuôi thả là cá rô phi đơn tính (RPÐT), tôm càng xanh (TCX). Theo số liệu của Sở Thủy sản, năm 2004, nông dân Nam Ðịnh nuôi thả khoảng 100 ha TCX, 300 ha RPÐT, hầu hết là đất tận dụng hoặc từ trồng lúa kém hiệu quả chuyển đổi sang. Ðến nay, các hộ nuôi vùng nội đồng đã bắt đầu thu hoạch với kết quả gấp năm, sáu lần so với trồng lúa. Từ đó, Nam Ðịnh rút ra ba kinh nghiệm:
Một là, tỉnh đã xây dựng được quy hoạch tổng thể phát triển ngành thủy sản đến năm 2010 và tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng, hệ thống thủy lợi phục vụ NTTS. Các ngành giao thông vận tải, điện lực, bưu điện đầu tư gần 350 tỷ đồng xây dựng hệ thống "đường - điện - trạm" nhằm thu hút các nhà đầu tư trong tỉnh, ngoài tỉnh tham gia NTTS. UBND tỉnh đã phê duyệt 22 dự án NTTS với tổng số vốn hơn 178 tỷ đồng; trong đó vốn ngân sách cấp 90 tỷ đồng, còn lại là vốn huy động trong dân. Ðã có hơn mười dự án hoàn thành phần xây dựng cơ bản và đưa tôm sú vào nuôi đạt kết quả khá tốt. Trong đó, thành công nhất là dự án chuyển đổi 65 ha vùng bãi ven sông Sò thuộc hai xã Xuân Vinh - Xuân Hòa (Xuân Trường) sang NTTS. Qua hai năm (2003 - 2004) sản xuất đều đạt năng suất hai tấn tôm sú/ha/năm. Tất cả các hộ nuôi tôm sú trong dự án đều thu lãi từ 120 đến 150 triệu đồng/ha/năm, gấp bảy, tám lần so với trồng lúa.
Hai là, phát động nông dân cùng tham gia NTTS theo phương châm "Nhà nước và nhân dân cùng làm", để huy động nguồn vốn trong dân đầu tư cho lĩnh vực này. Việc xã hội hóa nghề NTTS còn là cách làm phù hợp, có hiệu quả khi chuyển đổi diện tích trồng lúa kém hiệu quả sang NTTS vùng nội đồng theo quy mô gia đình. Ở xóm 10, thôn Phú Lễ, xã Hải Châu (Hải Hậu), có 96 hộ và hơn 74 mẫu ruộng cấy lúa vốn trước đây là vùng trồng cói, hiệu quả không cao. Khi huyện có chủ trương chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi trong sản xuất nông nghiệp, xóm đã chọn mười hộ để chuyển đổi 10 mẫu ruộng sang nuôi cá RPÐT. Mức đầu tư khoảng 50 triệu đồng/mẫu/hộ, trong đó huyện hỗ trợ một triệu đồng, còn lại là dân tự lo.
Hôm chúng tôi đến thăm, nông dân xóm 10 đang thu hoạch cá bán cho bạn hàng ở Ninh Bình, Hà Nội. Dự kiến mỗi hộ có thu nhập hơn 20 triệu đồng/mẫu/năm (đạt giá trị 54-60 triệu đồng/ha/năm). Từ kết quả này, có thêm 17 hộ dân trong xóm xin chuyển đổi gần 20 mẫu trồng lúa sang NTTS vào năm tới. Ðược biết, khi chuyển đổi 183 ha sang NTTS ở huyện Hải Hậu trong năm nay đều được thực hiện theo phương thức này và đạt được kết quả khá, tạo đà cho phong trào NTTS của tỉnh ngày càng phát triển.
Ba là, làm tốt công tác khuyến ngư, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho nông dân. Hằng năm, ngành thủy sản đều xây dựng các mô hình trình diễn con giống mới và tổ chức 10-15 lớp tập huấn kỹ thuật NTTS. Riêng năm 2004, mở 22 lớp với gần 2.000 lượt hộ nông dân tham dự. Nhờ đó, các hộ dân đã nhanh chóng tiếp thu và áp dụng kiến thức mới về công nghệ, kỹ thuật NTTS một cách khoa học, hợp lý. Các vùng NTTS của Nam Ðịnh ít xảy ra dịch bệnh, là môi trường kỹ thuật tốt cho các nhà đầu tư. Cũng trong thời gian qua, hai ngành thủy sản, khoa học và công nghệ thực hiện 20 đề tài nghiên cứu về môi trường vùng biển, chuyển giao công nghệ sản xuất các giống tôm sú, cua biển, ngao...
Việc mở rộng nghề NTTS như ở Nam Ðịnh là hướng đi hợp lý. Tuy nhiên, để NTTS phát triển nhanh, bền vững, xứng đáng là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh và trở thành trung tâm NTTS của khu vực đồng bằng Bắc Bộ trong chiến lược phát triển chung của ngành thủy sản, tỉnh Nam Ðịnh cần tiếp tục tháo gỡ một số khó khăn, vướng mắc. Ðó là bố trí đủ nguồn vốn từ ngân sách để hoàn thành dứt điểm 22 dự án NTTS được UBND tỉnh phê duyệt từ năm 2001 đến nay. Như các phần trên đã đề cập, trong tổng số vốn hơn 178 tỷ đồng của 22 dự án, có 90 tỷ đồng vốn cấp từ ngân sách. Nhưng đến nay, nguồn vốn này mới giải ngân được 30%, cho nên việc xây dựng kết cấu hạ tầng các vùng nuôi chưa đồng bộ; thậm chí một số dự án còn dở dang, kém sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư. Ngành thủy sản đang tích cực đề nghị tỉnh và các địa phương tìm cách khai thông nguồn vốn để cấp đúng, đủ cho các dự án. Ðồng thời, động viên, khuyến khích các thành phần kinh tế tiếp tục đầu tư cho NTTS. Trong đó, tập trung vào lĩnh vực sản xuất giống, phấn đấu đến năm 2007 chủ động được nguồn giống cho nông dân.
Mặt khác, lực lượng cán bộ quản lý và kỹ thuật chuyên môn của ngành còn thiếu và yếu. Qua tìm hiểu thực tế cho thấy, những cơ sở sản xuất giống của tư nhân trên địa bàn hầu như chưa có cán bộ kỹ thuật, cho nên quy trình sản xuất của họ chỉ làm theo lối truyền nghề chưa có sự ổn định và độ tin cậy cao. Sở Thủy sản có cử cán bộ kỹ thuật tăng cường cho các cơ sở, song đây chỉ là giải pháp tạm thời. Ðiều quan trọng là các cơ sở phải có đội ngũ cán bộ kỹ thuật để làm chủ công nghệ, kỹ thuật. Ðược biết, ngành thủy sản Nam Ðịnh còn xây dựng và trình UBND tỉnh phương án kiện toàn mạng lưới khuyến ngư cơ sở trên tinh thần bố trí cho 80 xã, thị trấn ven biển hoặc có dự án NTTS, mỗi nơi có một khuyến ngư viên hưởng phụ cấp 150 nghìn đồng/người/tháng. Tổng kinh phí chi cho hoạt động này cần khoảng 150 triệu đồng/năm, nhưng nguồn lợi từ hoạt động khuyến ngư mang lại không phải là nhỏ. Hy vọng những dự án trên sớm trở thành hiện thực để lĩnh vực NTTS ở Nam Ðịnh tiếp tục tạo bước đột phá, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.