Free Web Hosting by Netfirms
Web Hosting by Netfirms | Free Domain Names by Netfirms

Phải liên kết để phát triển bền vững ngành thủy sản ĐBSCL

BCT, 15/11/2004

 

Nếu trước đây, con cá tra chỉ được nuôi ở An Giang, Đồng Tháp và Cần Thơ thì hiện nay đã phát triển tại 10 tỉnh ĐBSCL, với sản lượng năm 2004 ước khoảng 300.000 tấn, được sản xuất theo hướng công nghiệp, hàng hóa. Trước những biến động về giá thời gian qua và nguy cơ khủng hoảng thừa nguồn cá tra nguyên liệu, Bộ Thủy sản vừa tổ chức một hội thảo tại An Giang. Mục tiêu chính của hội thảo này đưa ra là các tỉnh có diện tích nuôi cá tra phải liên kết lại để cùng bảo vệ lợi ích lẫn nhau cũng như góp phần xây dựng thương hiệu thủy sản ĐBSCL trụ vững trên thị trường thế giới, phù hợp với kinh tế hội nhập. Nhưng bằng những giải pháp nào?

Ông Nguyễn Hoàng Việt, Chủ tịch UBND tỉnh An Giang: “Nắm bắt nhanh diễn biến thị trường và có biện pháp can thiệp kịp thời”

- Con cá tra là sản phẩm độc quyền của ĐBSCL. Do đó, các tỉnh có diện tích thả nuôi loại cá này cần phải liên kết phát triển trong lúc có thể độc quyền như hiện nay. Công tác thống kê là rất quan trọng. An Giang đã chi trên 100 triệu đồng/năm cho công tác thống kê về thủy sản. Nhờ đó, chúng tôi nắm bắt rất nhanh diễn biến thị trường nguồn nguyên liệu và có biện pháp can thiệp kịp thời. Để đảm bảo sự phát triển toàn vùng cần công tác thống kê vùng. Tức là chúng ta phải có đầu mối liên kết dựa trên sự hợp tác tự nguyện giữa UBND và ngành Nông nghiệp - Thủy sản các tỉnh, thành để cung cấp và tiếp nhận thông tin về số liệu vùng và cùng giải quyết khó khăn. An Giang sẽ đảm trách công tác tổng hợp từ thống kê của từng tỉnh và thông tin phản hồi số liệu tổng hợp này.

Xử lý vấn đề dựa trên lợi ích của toàn vùng, an ninh kinh tế Quốc gia. Tránh trường hợp khủng hoảng thừa, chúng ta cần phải quy hoạch phát triển sản lượng và phân kỳ sản lượng cho toàn vùng. Quy hoạch này phải do Bộ thủy sản chủ trì và giao cho UBND từng tỉnh thực hiện chi tiết quy hoạch đó. Nếu cần, chúng ta cũng có thể áp dụng chế tài đối với những hoạt động không theo quy hoạch. Và vấn đề cần thiết hiện nay là ràng buộc trách nhiệm giữa “hai nhà” doanh nghiệp và ngư dân. Chúng ta có thể áp dụng hình thức chia sẻ lợi ích kinh tế lẫn nhau - “hai nhà” phải “ngồi cùng thuyền”. Giá nguyên liệu lý tưởng 12.000 đồng/kg đảm bảo giá xuất 3 USD/kg là có lời. Nếu giá xuất, giá nguyên liệu vượt chênh lệch cao hơn thì cả “hai nhà” đều được hưởng từ lợi nhuận vượt trội đó. Đồng thời, cũng từ nguồn này, từng địa phương hoặc cả vùng hình thành Quỹ rủi ro để “trợ giá” khi thị trường biến động theo chiều hướng giảm. Hội nghề nuôi có vai trò đắc lực trong việc quản lý đối với liên kết này với tư cách là trung gian...

Ông Nguyễn Hữu Trí - Chủ tịch Hội Nghề cá thành phố Cần Thơ (CAFA): “Thực hiện quản lý hợp đồng nhằm bảo vệ lợi ích của hai nhà”

- Trước hết là khâu hợp đồng tiêu thụ nguyên liệu phải được ký kết ràng buộc trách nhiệm lẫn nhau và có giá bao tiêu cụ thể. Trong hợp đồng giữa công ty chế biến và ngư dân ghi rõ khi có vướng mắc, hai bên sẽ thương lượng biện pháp khắc phục. Do đó, khi giá thị trường xuống dưới mức 11.000 đồng/kg (giá bao tiêu là 13.200 đồng/kg) trong cú sốc giá nguyên liệu vừa qua, “hai nhà” đã ngồi lại thương lượng và đi đến thống nhất 12.200 đồng/kg, đảm bảo hai bên đều có lời.

Nhờ đó, trong số các ngư dân ở thành phố Cần Thơ chỉ có một hộ bán cá với giá dưới 11.000 đồng/kg loại I; số còn lại đều bán với giá trên 12.000 đồng/kg. An Giang đề xuất giá cá nguyên liệu 12.000 đồng/kg đảm bảo giá xuất 3USD/kg là rất hợp lý. Tôi cho rằng, giá này cần được thống nhất của toàn vùng, làm cơ sở để thực hiện các hợp đồng tiêu thụ giữa ngư dân và doanh nghiệp. Trong điều kiện quản lý nha nước về nghề cá chưa đủ mạnh, Hội còn yếu và tình trạng dân nuôi tự phát như hiện nay, chúng ta cần có kế hoạch phát triển cụ thể, mang tầm cỡ vùng; phát triển gắn với năng lực chế biến và thị trường tiêu thụ. VASEP, Hội nghề cá Trung ương thực hiện quản lý về hợp đồng nhằm bảo vệ lợi ích của hai bên, đảm bảo sư phát triển bền vững....

Ông Nguyễn Văn Hảo, Viện trưởng Viện nghiên cứu thủy sản phía Nam - Bộ Thủy sản: “Phát triển vùng nuôi phù hợp với túi chứa hệ sinh thái”

- Trước những yêu cầu của thị trường và sự phát triển vững chắc của thủy sản đồng bằng, Viện đang thử nghiệm nuôi cá tra chuyên cho phi-lê với tỷ lệ cao thay cho cá tra giống truyền thống. Con giống chất lượng cao này sẽ cho ra thị trường trong thời gian không xa, góp phần hạ giá thành sản phẩm phi-lê xuất khẩu! Hiện nay, chúng tôi cũng đang đẩy nhanh việc nghiên cứu cơ sở khoa học sông Tiền và sông Hậu để có đánh giá chuẩn mực về sức chứa hệ sinh thái tại đây. Qua đó, Viện có cơ sở trình Bộ Thủy sản hướng quy hoạch phát triển bền vững cho khu vực, hạn chế thấp nhất ảnh hưởng của nghề nuôi cá tác động đến tài nguyên nước. Bên cạnh việc áp dụng những kỹ thuật trong nuôi thả cá, ngư dân cần phải đa dạng hóa con nuôi trong cùng một điều kiện chăm sóc vừa đảm bảo được vấn đề môi trường, vừa tăng lợi nhuận kinh tế. Ngư dân là người sản xuất cá hàng hóa cũng phải nắm bắt thị trường để chủ động thu hoạch; liên kết với nhau thành các tổ hợp tác sản xuất theo địa chỉ....

Ông Lương Lê Phương, Thứ trưởng Bộ Thủy sản: “Xây dựng thương hiệu thủy sản ĐBSCL để tạo chỗ đứng vững chắc hơn”

-Trong điều kiện kinh tế hội nhập, chúng ta cần ứng dụng nhanh những tiêu chuẩn Quốc tế trong sản xuất và chế biến. Đây là “giấy thông hành” để hội nhập, đưa sản phẩm của Việt Nam chen chân và đứng vững trên thị trường thế giới. Bộ thủy sản đánh giá rất cao những sáng kiến liên kết vùng của các tỉnh ĐBSCL, đặc biệt là vai trò của An Giang trong việc đề xuất các biện pháp liên kết, thống kê vùng và tiên phong ứng dụng tiêu chuẩn SQF trong sản xuất cá tra hàng hóa. Mô hình ứng dụng này cần được nhân rộng đối với các tỉnh có diện tích nuôi trồng thủy sản; không chỉ con cá tra và tất cả các loại thủy sản xuất khẩu khác cũng cần phải áp dụng các tiêu chuẩn này.

Bộ sẽ sớm có quy hoạch vùng nuôi sản phẩm chủ lực của đồng bằng theo nghiên cứu sức chứa hệ sinh thái của Viện nghiên cứu thủy sản phía Nam. Đồng thời, cũng sẽ xúc tiến xây dựng thương hiệu thủy sản ĐBSCL để tạo chỗ đứng vững chắc hơn nữa của sản phẩm này. Sau vụ kiện cá da trơn ở Mỹ hồi năm ngoái, sản phẩm từ cá tra, cá ba sa đồng bằng đã khẳng định mình bằng hướng đi mới: Không tập trung một vài thị trường mà tiếp tục mở rộng ở nhiều châu lục trên toàn thế giới. Từ thị trường 29 nước lên 45 nước như hiện nay chứng tỏ sản phẩm này rất được ưa chuộng. Do đó, việc xây dựng thương hiệu thủy sản ĐBSCL càng khẳng định hơn nữa vị thế của thủy sản Việt Nam trên trường Quốc tế. Xây dựng thương hiệu phải được đặt trên nền móng chất lượng sản phẩm đạt các tiêu chuẩn quốc tế...

THÀNH NGUYỄN (Lược ghi)