Free Web Hosting by Netfirms
Web Hosting by Netfirms | Free Domain Names by Netfirms

Đi cào sò trứng

Bình Thuận, 28/10/2004

 

Hiếm có nơi nào được thiên nhiên ưu đãi như  vùng biển Thừa Đức (Bình Đại, Bến Tre). Hết mùa đi hốt nghêu cám, đến mùa cào sò trứng. Cứ đến tháng tư âm lịch, sò trứng từ biển tấp vào Cửa Đại, rồi tràn lên bãi biển Thừa Đức nhiều vô số kể. Đó cũng là thời điểm cư dân vùng bãi ngang khắc nghiệt này sửa ghe, sắm vợt kéo nhau ra biển cào của trời cho.

. . . ĐI CÀO

Rạng đông, khi con nước thủy triều vừa rút, kẻ già người trẻ, cơm đùm cơm túm lục tục đi cào. Tới mùa sò trứng, công việc làm giồng gát qua một bên. Mỗi năm trời cho một lần, nhanh chân thì còn, chậm chân thì mất.  Người có ghe trở thành ông chủ. Người không ghe đi theo làm công, gọi là bạn cào. Làm bạn cào cực lắm, tiền lại hẻo. Nên không ít người đem đồ cầm cố, xách sổ đỏ gõ cửa ngân hàng sắm ghe làm chủ. Trúng mùa sò trứng, thu lại mấy hồi.

Sò trứng tắp vào đây hồi năm 1999. Chúng bám đặc nghẹt vào những vật thể linh tinh trên bãi, thường là miếng vỏ sò, vỏ vọp ẩn khuất dưới lớp bùn non.  Lái buôn sò giống tận Kiên Giang qua đây phát hiện, đưa ghe sang cào, rồi thuê đất ươm sò. Dân Thừa Đức dần dà biết chuyện bắt chước cào theo. Chỉ một mùa cào, chủ ghe sắm vàng cây, vàng lượng. Rồi ùn ùn rủ nhau ra biển, hình thành một đội quân cào sò hùng hậu.

 Ngày nào cũng vậy, hơn 500 chiếc ghe bầu cỡ 3 – 4 tấn máy nổ vang trời, cùng hàng ngàn người quần đi đảo lại, làm đục ngầu vùng bãi bồi dài hơn 4 cây số từ Vàm Thừa Mỹ đến Vàm Cống Bể. Ghe của người dân Thừa Đức thì ít, từ nơi khác đến như Long An, Tiền Giang, Vũng Tàu, Trà Vinh, Kiên Giang thì nhiều. Có lúc đông quá, lượng ghe cào tăng hơn 600. 

Cái cào là một khung sắt nặng trịch, dài 1,4m, rộng khoảng 2 tấc. Sò trứng nhỏ li ti như hạt cát, nên miệng cào làm bằng lưới mùng. Người cào chỉ cần đứng trên ghe, quăng cào xuống bãi ngập triều, rồi rồ máy lôi đi. Chừng một đoạn, chủ ghe kéo miệng cào lên. Đó là một mớ xà bần, tạp nhạp đủ thứ trên đời. Chủ ghe lấy hết không bỏ thứ gì. Cứ thế mà cào. Cứ thế mà hốt xà bần. Khi hết con nước, hàng trăm ghe cào tứ xứ tụ tập về bến và bắt đầu công đoạn đãi sò. Rác và các vật thể nghi có sò trứng đeo bám được giũ thật kỹ rồi bỏ đi. Phần còn lại đưa vào cái rây sàn đi sàn lại nhiều lần, tựa như đãi cát tìm vàng. Bùn đất và các tạp chất lọt qua đáy rây. Phần trên sàn giống như chất bột nhám gồm trứng sò, trứng hến, trứng ốc và con dòm. Dân thường nhìn không biết, còn dân nhà nghề có thể phân biệt được trứng sò màu ngà, trứng hến màu trắng, trứng ốc màu đen. Mẻ sàn nào màu ngà chiếm ưu thế, chủ ghe thắng đậm. Ngược lại, le lưỡi hít hà coi như thất chuyến.

Rồi bãi đãi sò biến thành cái chợ. Người mua “bột nhám” về ươm sò giống tranh nhau mặc cả. Bột sàn kỹ không còn tạp chất, khoảng 700.000 đồng/kg. Sàn còn dơ, giá giảm vài phân. Ghe nào cào trúng, một con nước kiếm được vài kí là chuyện thường. Nhiều chủ ghe thiếu thợ sàn, chấp nhận bán sô cả rác lẫn trứng. Tuỳ theo chất lượng hàng sô, giá từ 10.000 – 100.000 đồng/kg. Chủ ươm sò giống mua về, trả công cho một thợ sàn 10.000 đồng/ngày. Sò trứng không tiện  đưa đi xa vì dễ hư, ươm không lên giống. Cho nên,  chủ tàu các nơi đều bán hết cho chủ ươm giống địa phương.

 . . . ĐẾN DỊCH VỤ ƯƠM SÒ

Đem thứ bột nhám ươm trên đất bãi bồi. Sau 30 ngày sò trứng nhép miệng, dùng vợt lưới cào lên rồi thuê người lựa sò. Hến còn lẫn trong sò được loại ra. Nhất là các loài ốc vá, ốc hương có đặc tính ăn sò con rất dữ. Nguy hại hơn là con dòm có chùm lông sắc, ôm lấy sò con nghiền cho đến chết. Việc lựa sò khá cực nhọc, phải tỏ mắt và bền sức mới làm được việc này. Người lựa thường là đàn bà, con gái. Cứ đầy một ly uống trà, chủ trả 10.000 đồng. Lựa giỏi, một người kiếm được 3 – 4 ly/ngày. Sò được lựa ra chỉ bằng đầu chân nhang gọi là sò sạch, được tiếp tục đổ xuống bãi ươm trong vòng 2 tháng nữa để đạt kích cỡ sò giống, bán cho người ta nuôi sò thịt thương phẩm. Sò giống nhỏ xíu, khi bán không tài nào đếm từng con. Dân nuôi sò lão làng, nhìn cỡ sò mà đoán số con trong một cân lượng. Sò giống càng nhỏ, bán càng được giá vì nhiều con. Một kí sò giống (loại 0,8 triệu con), giá từ  3 – 3,5 triệu đồng. 

Ban đầu, ở Thừa Đức chỉ có vài hộ ươm. Không bao lâu, hình thành làng ươm sò giống trên 400 hộ, dọc theo sông Giồng Cà, sông Cây Thông và sông Mương Cừ. Riêng ấp Thừa Thạnh có 220 hộ dân, thì có đến 146 hộ làm nghề ươm sò. Giờ đây, nghề ươm sò ở Thừa Đức làm nhiều người phất lên nhanh chóng. Cứ ươm 1 kí bột nhám lên sò giống, lời hơn 2 triệu đồng. Người nào ươm mát tay, lời đến mức…. siêu lợi nhuận.  Như ông Tư Lượm, bỏ ra chưa tới 10 triệu đồng, sau một chu kỳ ươm 3 tháng, lời hơn 60 triệu. Anh Bảy Dũng bỏ vốn 30 triệu, lãi hơn 70 triệu đồng. Ai có vốn sắm vài chiếc ghe tự cào tự ươm, tiền lời tăng lên gấp bội. Người nghèo cũng có cơ may thoát nghèo. Ông Tư Hên điền đất không có, làm mướn nuôi 7 miệng ăn. Vay mượn được 3 triệu đồng mua sò trứng xà bần loại rẻ về sàn, rồi ra tuốt bãi bồi cắm cọc ươm sò. Vụ rồi lời 8 triệu đồng, cả nhà mừng hơn trúng số. Gia đình anh Tư Tươi cũng đi làm mướn kiếm sống. Vừa rồi được xã cất cho căn nhà tình thương. Nghèo quá, nhưng cũng rán vay nóng, vay lạnh được 4 triệu đồng, mua xà bần về ươm lời gần 20 triệu. Mấy năm trước, dân Thừa Thạnh vì nghèo đem đất cầm cố, cho người xứ khác đến thuê nuôi tôm sú công nghiệp. Nay nhờ dịch vụ ươm sò, nhà cao cửa rộng mọc lên chóng mặt.

Ở Bến Tre, nghề nuôi sò thịt thương phẩm phát triển rất mạnh dọc theo 65km bờ biển, thuộc 3 huyện  Bình Đại, Ba Tri và Thạnh Phú. Nhu cầu sò giống hàng trăm tấn mỗi năm. Trước đây, người nuôi phải lấy giống từ Kiên Giang. Từ lúc nghề ươm sò giống ở Thừa Đức phát triển, người nuôi sò thịt trong tỉnh khỏi phải lấy sò từ Kiên Giang nữa. Sò giống Thừa Đức đạt tiêu chuẩn kích cỡ, đồng đều, lại được ươm tại chỗ nên thích nghi tốt, tỷ lệ thất thoát thấp do không bị sốc nước và điều kiện môi trường sinh thái. Ông Mười Sơn cho biết: “Nuôi sò do mình tự ươm, lớn nhanh mắc ham. Hai công thu được 12 tấn sò thịt, lời 40 triệu đồng”.

Hết mùa nghêu cám rồi đến mùa sò trứng, biển đã làm “việc thiện” cứu người dân Thừa Đức trong cơn đói nghèo. Tuy nhiên, nếu như chính quyền và người dân nơi đây biết cách tổ chức bảo vệ và khai thác tài nguyên hợp lý, thì nguồn lợi kinh tế mang lại cho xã hàng năm không nhỏ.