|
|
|
An Giang: Đã tới hồi kết cho nghề nuôi cá bè
LĐ, 27/10/2004
Nghề nuôi cá bè ở An Giang hình thành vào năm 1968 do những Việt kiều ở Campuchia du nhập vào. Vào năm 1974, tại Châu Đốc tập trung 7.250 bè vớI sản lượng khoảng 42.000 tấn, bình quân 6 tấn/bè. Năm 1983, lần đầu tiên cá ba sa nuôi bè được xuất khẩu sang Australia, Hồng Kông, Singgapore. Năm 1993, lần đầu tiên An Giang xây dựng nhà máy chế biến thủy sản đông lạnh, chế biến cá ba sa nuôi bè và xuất khẩu sang Châu Âu, Mỹ...
Năm 1993-1996, là thời gian nghề nuôi cá bè ở An Giang hưng thịnh nhất: Số lượng bè tăng từ 1.469 (1993) lên 2.503 (1996). Sản lượng cá bè tăng vọt từ 17.000 tấn lên 27.419 tấn. Ở Châu Đốc có bè đạt sản lượng 200 tấn.
Năm 1997 đến nay, do mất cân đối cung-cầu làng cá bè lận đận. Số lượng bè còn khoảng 3.000 cái, sản lượng khoảng 40.000 tấn. Trước đây, cá nuôi bè chủ yếu là ba sa (pangasius bocourti), được khai thác trong tự nhiên. Từ năm 1991, An Giang bắt đầu chương trình nghiên cứu sinh sản nhân tạo cá tra, ba sa. Chúng ta hãy nghe ý kiến một số người trong cuộc:
Ông Nguyễn Hữu Khánh - Phó Chủ tịch Hiệp hội Nghề cá VN: Đã đến lúc kết thúc làng nghề cá bè.
Tiêu tốn nhiều thức ăn hơn bình quân khoảng 0,5kg, tốc độ tăng trọng dài hơn 1-2 tháng, giá thành cao hơn khoảng 1,5- 2 ngàn đồng, nhưng giá bán lại rẻ hơn bình quân 1,5-2 ngàn đồng/kg.... là những yếu tố cho thấy, đã đến lúc làng nghề nuôi cá trong hầm thay thế vai trò lịch sử của làng bè. Đó là chưa kể đến lợi thế mà loại hình nuôi hầm cá ăn đứt việc nuôi bằng bè. Hiện nay nhiều tỉnh như Bến Tre, Tiền Giang, Kiên Giang, Sóc Trăng... cũng đã bắt tay vào nuôi hầm vớI quy mô lớn. Điều này cho thấy sự cạnh tranh về giá là rất lớn trong những năm tới, hay nói cách khác cánh cửa để cá bè tồn tại đã dần dần khép lại.
Ông Bửu Huy - Phó Giám đốc Cty Afiex: "Chuộng cá nuôi hầm hơn cá bè".
Sau khi xử lý được nguồn nước và cho ăn bằng thức ăn công nghiệp, thay cho công nghệ nuôi hầm nước tù và chủ yếu được nuôi sống bằng "phân", cá nuôi hầm cho thịt trắng, điều kiện hàng đầu để các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu quyết định mua. Tuy chất lượng mùi chưa bằng cá nuôi bè, nhưng đó chỉ là phần phụ, bởi cá nuôi hầm được nuôi thoáng rộng nên hàm lượng mỡ thấp, tỉ lệ phi lê cao, bình quân 2,6-2,8kg cá thịt cho 1kg phi lê, trong khi đó với cá bè là 3,0-3,2kg. Mặt khác, do hầm hứng được nhiều ánh sáng trời... nên rất ít sử dụng thuốc phòng trị so với cá bè nên chúng tôi rất an tâm khi đưa sản phẩm cá nuôi hầm qua hàng rào kiểm tra chất lượng của các nước nhập khẩu.
Lục Tùng ghi