|
|
|
Nuôi cá "quý tộc" ở An Giang
BCT, 23/10/2004
Gọi là “quý tộc” bởi lẽ loài cá này ăn rất ít và khá chậm lớn nhưng giá trị kinh tế lại rất cao. Sau mười tháng nuôi bè, cá đạt trọng lượng 800 gam/con, thương lái tranh nhau mua tận nơi với giá 220.000 đồng/kg. Đó là con cá chình trên kinh Bảy Xã thuộc xã Phú Lộc, huyện Tân Châu (An Giang).
Nhìn hình dáng bên ngoài, cá chình rất giống cá chạch lấu nước ngọt nhưng lại xuất xứ từ miền Trung. Mấy lão nông miệt Tân Châu cứ luôn miệng bảo: “Thịt cá chình thua xa con chạch lấu vậy mà giá cũng mắc đáo để! Ăn một ký cá chình… đứt mấy đoạn ruột! Nông dân đồng bằng, ngay cả những người trực tiếp nuôi cá chình chẳng bao giờ dám thịt một con để nhâm nhi cho biết mùi, vì cá sống dưới nước mà giá trên trời!” . Cá chình chủ yếu xuất hiện trên thực đơn các nhà hàng lớn hoặc xuất khẩu sang Trung Quốc và một số nước châu Á có người Hoa sinh sống, nên giá thường “trụ” ở mức cao, 200.000 đồng/kg loại II (trên 500gam/con) và 220.000 đồng/kg loại I (800 gam trở lên/con). Ngư dân cũng không phải lo lắng đầu ra vì cán cân thị trường đang lệch về phía cầu trong khi diện tích nuôi thả loài cá này không tăng hoặc tăng rất chậm trong nhiều năm qua do rất hiếm con giống, chưa được sinh sản nhân tạo, chủ yếu câu bắt cá nhỏ từ thiên nhiên. Ngư dân muốn mua cá chình giống phải đặt hàng trước vài tháng nhưng số lượng cũng không nhiều.
Theo những ngư dân “làng chình” Phú Lộc, loại cá này được nuôi đầu tiên tại đồng bằng sông Cửu Long là ở vùng Đồng Tháp Mười từ khoảng năm 2001. Sau đó không lâu, mô hình này lan rộng sang kinh Bảy Xã nhưng cũng chỉ dừng lại ở khoảng trên dưới 40 bè tại xã Phú Lộc. Vài bè được nuôi trên sông Hậu – Châu Đốc. Ông Ngô Vô Kỵ là một trong những người tiên phong nuôi cá chình trên kinh Bảy Xã, cho biết: “Cá chình vốn rất khó tính, nước cạn hoặc sâu quá cũng không được. Kinh Bảy Xã này nhờ được nạo vét thông thoáng, độ sâu cũng vừa phải nên môi trường thích hợp cho loài cá này. Từ trước đến nay, như dân tụi tôi chưa thấy triệu chứng nào lạ gây hại cho cá. Có lẽ là do số lồng bè nuôi cá chình hiện nay không nhiều nên chưa bị ảnh hưởng”. Bè cá chình trên kinh Bảy Xã độ sâu đáy thường khoảng 2,5 mét để không bị đụng đáy sông vào mùa kiệt. Hơn nữa, đặc tính loài cá này chỉ sống ở tầng giữa nên ngư dân tận dụng thức ăn thừa chìm xuống tầng đáy thả nuôi cá bống tượng. Thời gian thu hoạch hai con cá này tương đương nhau nên cũng rất thuận lợi cho việc nuôi kết hợp. Ngồi trên bè cá chình, ông Kỵ nhẩm tính: “Với gần 600 con cá chình đã lọt vào nhóm đầu với thời giá hiện nay cũng kiếm được khoảng 100 triệu đồng. Trừ đi các chi phí thức ăn, nhân công,… tôi cũng thu lãi được khoảng một nửa. Đó là chưa kể lợi nhuận từ cá bống tượng…”.
Ngư dân nuôi cá chình được ưu đãi khá nhiều. Con giống được thương lái bán chịu trong hai tháng đầu – thời gian đủ để con giống thích nghi với môi trường và có thể đánh giá chất lượng chúng. Sau đó, ngư dân có thể trả 50% trị giá con giống, số còn lại kéo dài đến mùa thu hoạch. Nhưng ông Phạm Văn Đức, một ngư dân “làng chình” thì bảo: “Mặc dù chưa gặp sự cố gì trong thời gian nuôi cá chình, nhưng bà con ngư dân rất ngại vì thời gian nuôi thả quá dài, chủ yếu là kinh nghiệm chứ chưa có sự hướng dẫn kỹ thuật của cán bộ thủy sản. Với đà phát triển diện tích chậm như hiện nay đảm bảo được môi trường nước và chế độ chăm sóc tốt có thể chưa có dịch bệnh. Nhưng khi diện tích phát triển hơn nữa thì đây là vấn đề đáng lo ngại…”. Vì vậy, bà con ngư dân “làng chình” cứ tâm niệm “chậm mà chắc” còn hơn phải chạy theo thị trường dẫn đến khủng hoảng thừa, thiệt hại lại do ngư dân gánh chịu. Tuy nhiên, theo lời ông Trần Văn Thanh, một thương lái chuyên về cá chình cho biết: “Sản lượng cất bè bao nhiêu tôi cũng tiêu thụ hết vì thị trường nội địa và nhu cầu xuất khẩu hiện cao hơn rất nhiều so với diện tích nuôi hiện nay. Người Hoa dùng cá chình nấu với thuốc Bắc cho ra món ăn rất đặc biệt, chất lượng dinh dưỡng cao và là món khoái khẩu của giới thượng lưu, sành điệu trong ẩm thực Á Đông…”.
Phải chăng diện tích nuôi thả cá chình trên sông Tiền và sông Hậu phát triển chậm do điều kiện khách quan nhưng là dấu hiệu tốt cho việc duy trì những “mùa vụ ăn chắc” trong điều kiện dễ xảy ra khủng hoảng thừa nguồn nguyên liệu thủy sản hiện nay?
THÀNH NGUYỄN