Free Web Hosting by Netfirms
Web Hosting by Netfirms | Free Domain Names by Netfirms

Những mô hình xen ghép tăng lợi nhuận cho nuôi tôm

Báo Ninh Thuận, 14/10/2004

 

Chưa bao giờ tình hình nuôi tôm tại miền Trung lại “ảm đạm” như bây giờ, giá tôm thương phẩm bấp bênh, vùng nuôi ô nhiễm nghiêm trọng, dịch bệnh tràn lan, thua lỗ triền miên…Đã có nhiều mô hình được các nhà khoa học nghiên cứu, ứng dụng với mục đích vừa tăng thêm lợi nhuận vừa cải tạo môi trường cho nghề nuôi tôm.

Tiến sĩ Huỳnh Quang Năng phân tích một cách cặn kẽ rằng, sẽ không quá khó và rất hiệu quả đối với các hộ nuôi tôm sú khi áp dụng mô hình “Trồng thâm canh rong sụn trong ao đìa nuôi tôm sú vùng ven biển”. Hiện nay, do môi trường ô nhiễm người nuôi tôm đang chuyển dần từ nuôi thâm canh 2-3 vụ/năm sang 1 vụ ăn chắc. Ao đìa nuôi tôm sau khi thu hoạch bỏ không cùng một lượng chất dinh dưỡng rất lớn ở đáy ao, là nguyên nhân gây ra hiện tượng nhiễm bẩn ưu dưỡng lưu cữu từ năm này sang năm khác, gây ra nhiều loại bệnh cho tôm. Trong khi đó, môi trường ưu dưỡng này rất thích hợp cho sự phát triển của rong sụn. Rong có thể hấp thu hết các chất hữu cơ dư thừa, làm sạch nước và phát triển rất nhanh. Vì vậy, thay vì bỏ ao đìa trống từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau người nuôi tôm sẽ thu hoạch thêm được 2 vụ rong. Qua thực tế năng suất đạt 6-8 tấn/ha/vụ, giá rong khoảng 7.000đ/kg và đang được các công ty tranh mua để xuất khẩu. Trong khi đó tổng vốn đầu tư gồm rong giống, cọc, dây khoảng 10 triệu (cọc, dây có thể dùng trong 2 năm). Như vậy, thay vì bỏ ao trống trong thời gian nghỉ nuôi sau vụ chính, nếu kết hợp trồng rong sụn luân canh, người nuôi tôm có thể thu lãi ròng 60-70 triệu đồng/ha/năm (2 vụ). Các vùng đã ứng dụng khá thành công như vùng thủy triều Cam Ranh (Khánh Hòa) và Đầm Nại (huyện Ninh Hải - Ninh Thuận), với trên 200 ha mang lại kết quả rất khả quan vì vừa tăng thêm lợi nhuận, vừa cải tạo tốt môi trường nuôi một cách bền vững.

Vậy đối với vùng ao đìa nằm sâu trong đất liền và độ mặn thấp thì sao? Tiến sĩ Phạm Văn Huyên trả lời: Trồng rau câu cước và rau câu chỉ vàng trong ao lắng, ao chứa rất đơn giản: Chỉ cần mua rau câu giống về thả trực tiếp xuống ao với mật độ 500gam/m2. Nếu là đáy bùn, thả rau câu chỉ vàng, các loại đáy rắn khác thả rau câu cước.

Riêng đối với con tôm hùm, tuy rủi ro thấp, giá thành ổn định hơn, nhưng vẫn không tránh khỏi vấn nạn về môi trường nhiễm bẩn ưu dưỡng từ thức ăn thừa. Vì vậy, các mô hình nuôi tổng hợp nhiều đối tượng nuôi dưỡng bền vững đang được bà con nuôi tôm ở Xuân Tự, huyện Vạn Ninh (Khánh Hòa) áp dụng một cách đa dạng và rộng rãi, bởi vừa dễ làm, vừa kinh tế. Đáng lưu ý là mô hình vẹm xanh - tôm hùm. Bà Phạm Thị Dự, Viện Hải Dương học Nha Trang, người đã có sáng kiến nuôi ghép vẹm xanh với tôm hùm nhằm cải tạo tốt môi trường ưu dưỡng trong lồng và lấy vẹm làm thức ăn cho tôm cho biết: Bà đã cho cấy 400 kg vẹm xung quanh 270 đoạn dây dừa dài 1,5 - 1,8m rồi treo xung quanh lồng nuôi tôm. Sau 1 năm thu được hơn 5.000kg vẹm và dùng số vẹm này để nuôi tôm hùm. Kết quả là tôm hùm nuôi bằng vẹm xanh có tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ tôm sống cao. Hơn nữa nhờ khả năng lọc nước, vẹm xanh đã cải thiện chất lượng môi trường, làm giảm lượng hữu cơ và xử lý ô nhiễm vi sinh trong nước nên tôm nuôi bằng vẹm xanh hầu như không phát sinh dịch bệnh. Tuy nhiên, đối với chúng tôi, ấn tượng nhất vẫn là mô hình nuôi ghép nhiều đối tượng theo hướng bền vững với tôm hùm, hải sâm, vẹm xanh, rong sụn, bào ngư trong cùng một diện tích nuôi. Tiến sĩ Thái Ngọc Chiến, Trung tâm Nghiên cứu, Nuôi trồng Thủy sản 3, tác giả của đề tài đã bố trí: Xung quanh lồng tôm là “hàng rào” lưới cao 1m, cách lồng từ 3-4m để thả hải sâm; trên bề mặt nước là chằng chịt những dây nhựa cột song song cách nhau 1m teo lủng lẳng những chùm rong sụn; xung quanh giàn lồng là vô khối những chùm vẹm xanh, những rổ bào ngư treo lơ lửng… Các đối tượng này không có thể “chung sống hòa bình” với nhau, mà đối tượng này còn là thức ăn của các đối tượng khác theo xu hướng nuôi bền vững.

Báo Ninh Thuận 14-10