Free Web Hosting by Netfirms
Web Hosting by Netfirms | Free Domain Names by Netfirms


Thay đổi cách nhìn về phát triển

Nhân dân, 19/1/2004


Theo Bộ trưởng Thủy sản Tạ Quang Ngọc, năm 2004 dự kiến kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt 2,5 tỷ. Theo đó, cơ cấu nuôi trồng thủy sản cũng thay đổi. Cá rô phi nước ngọt, cá biển, tôm hùm sẽ được coi trọng.

* Năm 2003, xuất khẩu thủy sản đã không đạt được chỉ tiêu 2,3 tỷ USD. Ông có nhận xét gì về thực tế này?

- Kim ngạch xuất khẩu thủy sản năm 2003 chỉ đạt được 2,24 tỷ USD, tức là còn thiếu khoảng 60 triệu USD nữa so với kế hoạch. Tôi nghĩ, thiếu mấy chục triệu USD là một điều lo lắng. Song điều đáng lo lắng lớn hơn là đã xuất hiện yếu tố thiếu bền vững về tăng trưởng. Việc tăng kim ngạch XK tới 30% như những năm trước đây sẽ không còn nữa và thực tế năm 2003 chỉ tăng được 10,74%...

* Theo ông, đâu là nguyên nhân dẫn tới việc không đạt được kế hoạch xuất khẩu?

- Tôi cho rằng có cả nguyên nhân mang tính thị trường, tức là những yếu tố bên ngoài tác động và những nguyên nhân nội tại. Chủ yếu có sáu nguyên nhân mang tính thị trường. Trước nhất là ảnh hưởng của dịch SARS làm cho việc XK thủy sản vào thị trường Trung Quốc và Hồng Công giảm hẳn, bằng một nửa so với năm 2002 - tức là mất khoảng 150 triệu USD. Thứ hai, trong và sau vụ kiện cá tra, ba sa, tuy các DN đã tăng cường công tác tiếp thị những thị trường khác và cả nội địa nhưng XK loại sản phẩm này vẫn giảm khoảng 30%. Thứ ba là do lượng cung cấp tôm trên thị trường thế giới tăng quá lớn, nên giá tôm giảm liên tục trong cả năm, đặc biệt là trong sáu tháng cuối năm. Thứ tư là do năm nay mất mùa mực, nên XK mặt hàng này hầu như không đáng kể. Thứ năm là do quản lý không tốt, dẫn đến thực tế tuy được mùa cá ngừ, nhưng tỷ lệ XK được rất ít, vì tranh mua, tranh bán... Thứ sáu là do tâm lý lo lắng về các rào cản thương mại, nên một số DN vẫn ngại rủi ro, không dám mạnh dạn XK, đặc biệt là xuất sang một số thị trường khó tính.

Còn về nguyên nhân bên trong, phải nói thực là quan hệ liên hoàn trong các lĩnh vực từ sản xuất ra nguyên liệu và tiêu thụ nguyên liệu của chúng ta vẫn chưa thành một thể vững chắc, cả về số lượng, chất lượng và vệ sinh. Nhà máy nhiều khi thiếu nguyên liệu, khi thì lại quá thừa; thiếu những mặt hàng dễ bán (xuất khẩu) trong khi lại tồn kho những mặt hàng không bán được. Nguyên liệu vẫn chưa bảo đảm sạch vì tạp chất, dư lượng kháng sinh.

* Thưa ông, dù không hoàn thành được chỉ tiêu về kim ngạch XK, năm 2003 vẫn có thể được coi là năm thành công trong phát triển thủy sản?

- Có lẽ sự thành công này không tính được bằng những con số tăng trưởng. Năm vừa qua, ngành thủy sản đã có một bước lớn trong việc đặt cơ sở vững chắc cho quản lý nhà nước đối với phát triển ngành một cách dài hơi. Đầu năm có một chương trình để triển khai Quyết định 136 của Thủ tướng Chính phủ về cải cách hành chính 10 năm. Giữa năm bắt đầu triển khai cơ cấu tổ chức bộ máy của Bộ Thủy sản theo Nghị định 43 và bộ máy mới này trong năm tới sẽ hoạt động hài hòa với bộ máy quản lý ở các địa phương. Vào cuối năm, Luật Thủy sản - được coi như nền tảng cho phát triển kinh tế thủy sản, thích ứng với đặc thù của ngành, thích ứng với hội nhập đã được Quốc hội thông qua.

Năm 2003 cũng ghi nhận sự chuyển biến nhận thức của ngành về sự tăng trưởng trong giai đoạn tiếp theo. Chẳng hạn như về vấn đề chuyển dịch cơ cấu - vấn đề không chỉ nằm trong mối quan hệ chung mà thủy sản tham gia vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, mà bản thân nó đang là một đòi hỏi mang tính quyết định của sự phát triển đối với ngành thủy sản, từ đó đặt ra một hướng chiến lược rõ ràng hơn về các lĩnh vực trong ngành: cơ cấu giữa sản xuất với bảo vệ nguồn lợi, coi trọng việc gia tăng giá trị nhanh hơn là gia tăng sản lượng, tăng trưởng sản lượng chủ yếu tập trung vào nuôi trồng thủy sản (sẽ vượt lên trên 50%), thực hiện mức trần về khai thác hải sản (khoảng 1,5 triệu tấn) thay vào đó là ổn định tổ chức, có bước chuyển rõ ràng trong khai thác xa bờ... Bên cạnh thuận lợi đã xuất hiện nhiều thách thức! Chưa bao giờ ngành thủy sản Việt Nam lại thấy rõ những thách thức như lúc này. Tôi nghĩ rằng sự lạc quan không có cơ sở bây giờ đã mất dần, điều rất quan trọng trong nhận thức. Điều đó có nghĩa là cần phải tạo ra những sinh lực mới, có những phần thuộc về quản lý của Bộ, những phần thuộc về nguồn lực chính sách, cơ chế của Nhà nước và cũng có phần thuộc về nguồn lực và khoa học của các DN và chính những người dân.

* Đối với công tác xuất khẩu, sự nhận thức mới đó sẽ được tập trung vào khâu nào để có thể có hiệu quả, thưa Bộ trưởng?

- Từ nay cách làm ăn phải khác cơ bản thì mới có thể đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu ba tỷ USD vào năm 2005 và khoảng năm tỷ USD vào năm 2010. Nếu không thì chịu! Phải giải quyết được những vấn đề thị trường mà chúng ta đang vấp phải: vệ sinh an toàn thực phẩm, vượt qua các hàng rào thuế quan và phi thuế quan... và những vấn đề nội tại trong sản xuất kinh doanh mà tôi đã nói trên. Môi trường kinh doanh đã được Nhà nước mở ra rất thông thoáng, đặc biệt là vấn đề kích thích đầu tư, nâng cao nội lực... nhưng những yếu tố sản xuất kinh doanh liên quan tới quy hoạch - ảnh hưởng mạnh tới môi trường cần phải có bước chuyển rõ từ năm 2004 trở đi.

* Có ý kiến cho rằng Việt Nam gặp khó khăn trong xuất khẩu thủy sản vì quá chú trọng vào con tôm. Hướng của Bộ Thủy sản về phát triển mặt hàng hiện chiếm tới 50% giá trị xuất khẩu này?

- Lượng cung tôm trên thế giới vượt cầu không chỉ năm 2003 mà còn kéo dài nữa. Việt Nam vẫn chưa khai thác hết tiềm năng về xuất khẩu tôm: có những thị trường có thể vào được (xuất khẩu) thì chưa vào, lại đụng đầu vào những nơi " ách tắc". Mở rộng thị trường mới và tạo những loại sản phẩm mới, đa dạng hóa sản phẩm về tôm... sẽ vẫn có thể duy trì được tỷ trọng của mặt hàng xuất khẩu chủ lực này. Vừa rồi đi thực tế tại các tỉnh, tôi thấy mặt hàng tôm vẫn có thể XK mạnh, nhưng với điều kiện sức cạnh tranh phải cao hơn, trong đó nổi bật hai vấn đề: giá và dư lượng kháng sinh. Nếu khách hàng chấp nhận được hai vấn đề này thì chẳng có một rào cản nào có thể ngăn cản được chúng ta XK tôm cả. Cần phải xem lại kết cấu của nghề nuôi tôm: giá thành hiện nay đang bị đội lên do " xài" quá nhiều hóa chất, thuốc thú y (đi liền với vấn đề dư lượng kháng sinh), thức ăn; nuôi tôm còn quá nhiều rủi ro: một vụ "cõng" một vụ, thậm chí là hai, ba vụ...

Bên cạnh đó, vấn đề đặt ra là phải quan tâm đến đối tượng xuất khẩu khác. Cá nước ngọt phải được đưa vào sản xuất hàng hóa, chí ít trong năm 2004 sẽ tập trung vào cá rô phi - vì thị trường có sẵn hơn, người nuôi nhiều và dễ hơn (vấn đề là phải có giống tốt, hình thức nuôi phải tạo được hàng hóa thực sự); năm 2004 cũng sẽ coi trọng phát triển cá biển, tôm hùm - những mặt hàng dễ xuất khẩu. Đa dạng hóa vật nuôi, đa dạng hóa thị trường để lấp đầy vào những thị trường tiềm năng thì hạn chế bớt được những thị trường mà mình đang bị va vấp, tạo thành cơ cấu thị trường tương đối vững chắc hơn, chứ không thấp thỏm như hiện nay.

* Ông có thể nhận định về chỉ tiêu xuất khẩu thủy sản của năm 2004?

- Năm 2004 có thể gặp một số khó khăn, vì thế Bộ Thủy sản dự kiến kim ngạch XK thủy sản chỉ tăng khoảng 300 triệu USD, năm 2005 tăng thêm khoảng 400 triệu USD, để có thể hoàn thành chỉ tiêu đoạt kim ngạch XK thủy sản ba tỷ USD vào năm 2005. Như vậy, với khả năng khó khăn của năm 2003 này, chúng tôi dự kiến kim ngạch XK năm 2004 sẽ đạt từ 2,5 đến 2,55 tỷ USD, và nếu có thời cơ sẽ đạt được 2,6 tỷ USD. Nhưng vấn đề quan trọng là bây giờ phải tạo cơ cấu sản phẩm gì và tạo cơ chế thị trường như thế nào, và những yếu tố nào cạnh tranh để đạt mục tiêu đó. Theo tôi, có bốn vấn đề lớn: Thứ nhất là tìm ra một cơ cấu thị trường để tiếp tục khai thác vào những thị trường thuận lợi, nhưng tạo cơ cấu bền vững; thứ hai là phải tạo ra một cơ cấu mặt hàng, trong đó tôm (sú) vẫn là chủ lực, nhưng vẫn phải mở rộng các mặt hàng khác; thứ ba là phải đưa vấn đề vệ sinh, đặc biệt là dư lượng kháng sinh là một yêu cầu bức xúc trong nuôi trồng thủy sản, cũng như là trong bảo quản; thứ tư là phải tập trung các giải pháp để khắc phục các rào cản, trong đó có phần nâng cao năng lực của mình và có những biện pháp đấu tranh trên thị trường quốc tế. Muốn như vậy Nhà nước tuy không có hỗ trợ, nhưng sẽ tạo môi trường thuận lợi cho các DN để có điều kiện cạnh tranh tốt...

ĐỨC NGUYỄN thực hiện
(Thời báo Kinh tế Việt Nam)