|
|
|
Phát triển thủy sản bền vững gắn với bảo vệ môi trường: Nhìn lại năm 2003
Nhân dân, 18/1/2004
Năm 2003, kinh tế thủy sản nước ta tiếp tục phát triển theo hướng bền vững gắn với bảo vệ môi trường. Hàng thủy sản được xuất khẩu đến nhiều thị trường lớn với chất lượng và uy tín ngày càng tăng. Kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt 2,24 tỷ USD (tăng 11% so với năm 2002), tổng sản lượng thủy sản đạt 2,49 triệu tấn, diện tích vùng nuôi trồng thủy sản mở rộng đến gần một triệu ha.
Năm qua, cùng với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, ngành thủy sản xây dựng quy hoạch chi tiết phát triển theo các lĩnh vực khai thác, nuôi trồng và chế biến xuất khẩu. Việc triển khai các lĩnh vực bước đầu đạt kết quả tốt. Ngành thủy sản tiếp tục chương trình phát triển nghề cá xa bờ. Ðây là lĩnh vực còn nhiều khó khăn, hạn chế. Vùng biển nước ta rộng, từ nhiều đời nay nguồn lợi ở đây đã nuôi sống hàng triệu người với nhiều nghề, trong đó có khai thác hải sản. Người lao động ở vùng biển số đông nghèo, ít vốn, trong khi tiền vốn đóng tàu cá mỗi chiếc không dưới một tỷ đồng, cho nên chỉ có thể khai thác hải sản gần bờ với dụng cụ thủ công đơn giản, lạc hậu. Nguồn lợi vùng biển gần bờ cạn kiệt dần, sự cân bằng sinh thái của môi trường bị phá vỡ. Nhằm khắc phục những hạn chế đó, Nhà nước đã dành vốn tín dụng ưu đãi đầu tư cho việc đóng mới, cải hoán tàu đánh cá xa bờ. Ðến nay, chúng ta đã có lực lượng đáng kể tàu thuyền đủ sức ra xa bờ khai thác hải sản (81.800 tàu đánh cá với tổng công suất 4,04 triệu CV, trong đó có 6.236 tàu đánh cá xa bờ mới đóng, loại có công suất từ 90 CV trở lên). Lực lượng tàu đánh cá tăng đã giải quyết việc làm cho hàng chục nghìn người lao động trực tiếp đi biển và làm dịch vụ nghề cá ở trên bờ, hàng chục cơ sở đóng, sửa tàu thuyền, chế biến thủy sản truyền thống được khôi phục. Nhiều cảng cá, bến cá được xây dựng và trở thành những trung tâm nghề cá lớn trong khu vực. Sản lượng thủy sản khai thác xa bờ tăng nhanh, chiếm 30% sản lượng thủy sản khai thác chung. Nhiều địa phương đã chuyển hẳn sang khai thác hải sản khơi như Kiên Giang, Khánh Hòa, các sản phẩm có giá trị xuất khẩu, được khai thác ở vùng khơi như cá ngừ đại dương, cá chình đã mang lại nguồn thu đáng kể cho ngư dân. Nguồn lợi thủy sản ở nhiều vùng biển có dấu hiệu phục hồi, trong đó đã có nhiều đàn cá quý, giống thủy sản (tôm hùm, tôm sú, ngao...) xuất hiện gần bờ và bãi triều. Sự có mặt và hoạt động của hàng nghìn tàu đánh cá trên biển, ngoài khơi xa bờ, đã góp phần quan trọng kết hợp kinh tế với giữ gìn an ninh, quốc phòng trên biển.
Tuy nhiên, quá trình phát triển khai thác hải sản vẫn còn những mặt yếu kém. Ðó là hoạt động sản xuất trên biển còn phân tán, dịch vụ hậu cần chưa đủ sức đáp ứng nhu cầu của lao động ngoài khơi. Vẫn còn tàu không đi biển sản xuất vì thiếu lao động hiểu biết công nghệ khai thác hải sản khơi. Quản lý nợ vốn vay chưa tốt, nợ đọng còn lớn, ảnh hưởng xấu đến việc trả nợ tiền vốn vay Nhà nước. Ðến 30-6-2003, các địa phương trả nợ gốc cho Nhà nước 100 tỷ 401 triệu đồng, tổng số dư nợ còn 1.237 tỷ 137 triệu đồng. Khắc phục những thiếu sót đó, cùng với nâng cao năng lực sản xuất, ứng dụng công nghệ tiên tiến khai thác hải sản, tổ chức đánh bắt hải sản có hiệu quả kinh tế tốt hơn, ngành thủy sản và các ngành liên quan đã kịp thời khắc phục tình trạng nợ đọng kéo dài, xử lý nợ vay vốn tín dụng đầu tư (của chương trình đóng tàu đánh cá xa bờ), tạo điều kiện cho khai thác hải sản xa bờ đạt hiệu quả kinh tế cao.
Năm 2003, nuôi trồng thủy sản được phát triển không chỉ ở ao, hồ, sông, mà mở rộng ra vùng triều và biển. Ngành thủy sản coi nuôi trồng thủy sản là hướng chủ yếu tăng sản lượng và giá trị sản phẩm, trong quy hoạch phát triển kinh tế thủy sản nhiều năm tới. Hướng chuyển dịch và kết hợp giữa trồng lúa, rừng... với nuôi trồng thủy sản đang phát triển ổn định. Diện tích nuôi trồng thủy sản đã mở rộng đến gần một triệu ha, sản lượng thủy sản nuôi trồng chiếm 45% tổng sản lượng thủy sản. Thực tiễn chuyển dịch những diện tích lúa năng suất thấp sang nuôi thủy sản đã cho hiệu quả kinh tế lớn hơn năm trước. Thu nhập từ mỗi ha nuôi thủy sản gấp hơn mười lần trồng lúa. Những vùng đất trũng, hoang hóa, ngập mặn, bãi triều và biển đã được sử dụng nuôi thủy sản với nhiều hình thức như nuôi bán thâm canh, nuôi tôm công nghiệp, nuôi trong lồng bè trên sông, biển. Năng suất tôm nuôi có nơi đạt 7-8 tấn/ha. Nhiều địa phương đã hình thành vùng công nghiệp nuôi tôm với những khu sản xuất giống chất lượng cao, khu nuôi tôm sạch, nuôi tôm sinh thái.
Nuôi trồng thủy sản phát triển với nhịp độ nhanh, diện tích tăng đột biến, cho nên các quy hoạch ở từng vùng, từng địa phương chưa theo kịp hoặc không còn phù hợp tình hình mới. Rừng ngập mặn bị phá, vùng cát ven biển bị ô nhiễm, môi trường sinh thái mất cân bằng, tài nguyên nước suy kiệt... Nông dân thiếu hiểu biết về kỹ thuật, nhiều hộ gặp rủi ro trong sản xuất và thiệt hại lớn.
Ngành thủy sản đã kịp thời uốn nắn những sai lệch, chỉ đạo chặt chẽ và hoàn chỉnh các quy hoạch chi tiết nuôi thủy sản ở từng khu vực. Trong quá trình phát triển đã coi trọng tính toán, cân bằng các tiêu chuẩn kỹ thuật liên quan bảo vệ môi trường bền vững. Cơ sở hạ tầng cho nuôi thủy sản, trong đó có các công trình thủy lợi phục vụ nuôi thủy sản được tăng cường, bảo đảm nuôi thủy sản phát triển ổn định, bền vững.
Xuất khẩu thủy sản thời gian qua gặp biến động và trở ngại lớn của thị trường thế giới. Mặc dù tiêu thụ thủy sản thế giới vẫn ở mức cao, nhưng có nhiều diễn biến phức tạp, trong đó có sự "bùng nổ" phát triển nuôi thủy sản ở châu Á, châu Mỹ tạo ra nguồn cung cấp dồi dào lượng hàng thủy sản trên thị trường và sự cạnh tranh trở nên gay gắt. Các nước nhập khẩu đã đặt ra nhiều rào cản về kỹ thuật an toàn vệ sinh thực phẩm, kể cả các luật lệ về nhãn mác, chống phá giá, nhằm hạn chế nhập khẩu, bảo hộ sản phẩm trong nước, điều chỉnh cán cân thương mại.
Mấy năm vừa qua, xuất khẩu thủy sản của nước ta mở sang thị trường Mỹ, nhưng đồng thời cũng gặp nhiều trở ngại. Một trong những rào cản đó là những vụ kiện bán phá giá. Vào ngày cuối của năm 2003, Liên minh tôm miền nam Hoa Kỳ (SSA) đã khởi kiện "chống bán phá giá tôm" lên Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC) và Ủy ban Thương mại quốc tế Hoa Kỳ (ITC). Ðợt khởi kiện tách riêng cho từng nước và gồm sáu nước Thái-lan, Trung Quốc, Việt Nam, Ấn Ðộ, Ê-cu-a-đo và Bra-xin. Ðây là vụ kiện vô lý thứ hai của Mỹ đối với doanh nghiệp thủy sản Việt Nam, mà SSA đã lợi dụng chính sách bảo hộ mậu dịch ngày càng gia tăng của Chính phủ Hoa Kỳ.
Tuy nhiên, chế biến thủy sản xuất khẩu năm qua tiếp tục phát triển và được xác định là mũi đột phá để đẩy nhanh các lĩnh vực khác. Ðến nay đã hình thành ngành công nghiệp chế biến tiên tiến có trình độ công nghệ cao. Với 322 doanh nghiệp chế biến thủy sản thì 174 cơ sở đạt tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thủy sản, 100 doanh nghiệp trong danh sách xuất khẩu sang EU, 174 doanh nghiệp trong danh sách xuất khẩu sang Hàn Quốc, 12 vùng lớn nuôi nhuyễn thể đã được kiểm soát môi trường, 130 vùng nuôi tôm được kiểm soát về dư lượng kháng sinh. Chế biến thủy sản xuất khẩu đã kịp thời thích ứng với thị trường thế giới. Các doanh nghiệp năng động hơn trong các hoạt động thị trường, nâng cao sức cạnh tranh của hàng thủy sản. Quá trình phát triển thủy sản xuất khẩu đã hình thành đội ngũ lãnh đạo doanh nghiệp, cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật, vững vàng, năng động, tích lũy nhiều kinh nghiệm, đủ năng lực đưa thủy sản nước ta hội nhập thị trường thế giới.
TRẦN VINH