Free Web Hosting by Netfirms
Web Hosting by Netfirms | Free Domain Names by Netfirms


Hướng tới chất lượng 'sạch': Tín hiệu để thủy sản Việt Nam cất cánh

SGGP, 16/1/2004


Các doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu thủy sản, cùng nông-ngư dân không khỏi phấp phỏng trước vụ kiện tôm của Hoa Kỳ. Tuy nhiên, như lời Thứ trưởng Bộ Thủy sản Nguyễn Thị Hồng Minh, con đường ra thị trường nước ngoài của thủy sản Việt Nam đã tạo được một cái đà rất đáng hy vọng. Đó là những thành tựu về công tác bảo đảm an toàn vệ sinh (ATVS) cho hàng thủy sản.

Giới hạn phát hiện kháng sinh là 0,1ppb


Theo ông Nguyễn Tử Cương, Cục trưởng Cục Quản lý chất lượng, ATVS và thú y thủy sản, Bộ Thủy sản (Nafiqaved), trong những năm qua, cùng với tốc độ phát triển mạnh mẽ, Việt Nam đã đi vào chinh phục các thị trường, kể cả thị trường “khó tính” nhất là EU để họ thừa nhận năng lực kiểm tra an toàn thực phẩm của mình. Năm 1999, chương trình kiểm soát dư lượng các chất độc hại trong động vật và sản phẩm thủy sản nuôi mới được triển khai chỉ ở 15 vùng nuôi ở 15 tỉnh, thì đến nay, 130 vùng nuôi ở 34 tỉnh, thành với tổng sản lượng đạt gần 340.000 tấn đã được kiểm soát, đạt 100% vùng nuôi trọng điểm, tăng 15 lần so với thời điểm 1999. Kết quả này góp phần làm giảm rủi ro cho người nuôi; đồng thời tạo điều kiện để hàng hóa thủy sản có sức cạnh tranh hơn, làm căn cứ quan trọng để EU, Hoa Kỳ, Canada, Hàn Quốc, Nhật Bản, Thụy Sĩ... gỡ bỏ nhiều rào cản trong xuất khẩu.

Đặc biệt, theo yêu cầu của các nước nhập khẩu và của chính các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản (XKTS) Việt Nam, công tác kiểm soát ATVS được triển khai rất nghiêm ngặt đối với hàng thủy sản xuất, nhập khẩu. Hiện nay, 61% tổng lượng hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam được cấp chứng thư chất lượng trước khi thông quan. Từ ngày 15-7-2003 đến nay, không có lô hàng nào bị EU phát hiện nhiễm các chất kháng sinh. Vốn được coi là thị trường khó tính nhất trong việc yêu cầu bảo đảm ATVS thủy sản, nhưng khi đến Việt Nam, Đoàn thanh tra Ủy ban EU đã thừa nhận Việt Nam làm rất tốt công tác kiểm soát dư lượng kháng sinh trong thủy sản.

Vẫn theo ông Cương, nhiều thị trường đã công nhận kết quả kiểm nghiệm của Việt Nam, giúp XKTS vào các thị trường này “dễ chịu” hơn. Hiện nay, danh sách các doanh nghiệp được phép XKTS vào các thị trường lớn ngày càng tăng. Đặc biệt, hiện năng lực kiểm nghiệm các chỉ tiêu kháng sinh của Việt Nam đã đáp ứng được yêu cầu của các thị trường lớn, hạ giới hạn phát hiện kháng sinh xuống 0,1ppb, tương đương phòng kiểm nghiệm hiện đại nhất của EU. Nafiqaved cũng đã ký kết thỏa thuận song phương với Hàn Quốc, Canada. Giấy chứng nhận chất lượng cũng như ATVS cho lô hàng của Nafiqaved đã được cơ quan thẩm quyền của EU, Hoa Kỳ, Thụy Sĩ, Trung Quốc, New Zealand, Australia, Israel, các nước ASEAN cũng như các nước Đông Âu công nhận. Với điều kiện thuận lợi này, các lô hàng xuất khẩu của thủy sản Việt Nam (có chứng thư của Nafiqaved) chỉ phải kiểm tra xác suất: 5% (đối với Hàn Quốc, Thái Lan, Trung Quốc) và khoảng 20% đối với EU, Hoa Kỳ, Canada thay vì phải chịu chế độ kiểm tra 100% nếu không có ký kết, công nhận lẫn nhau. Vì vậy, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á khi cần chọn 3 nước làm điều phối trong việc soạn thảo SPS (rào cản ATVS) cho thủy sản đã chọn ngay Việt Nam, Thái Lan và Singapore. Trong đó Việt Nam là nước điều phối về hoạt động kiểm nghiệm thực phẩm.

Tiếp tục xây dựng ngành thủy sản “sạch”

Tuy nhiên, những kết quả trên đây nếu không được tiếp tục phát huy sẽ trở lên “lạc hậu” với yêu cầu ngày càng gay gắt về ATVS thực phẩm của thị trường thế giới, ngay cả đối với người tiêu dùng nội địa. Chính vì vậy, trong năm 2004, Nafiqaved sẽ ký kết thỏa thuận song phương với Thái Lan, Trung Quốc, lãnh thổ Đài Loan, Australia, Nhật Bản nhằm tạo cơ hội đẩy mạnh XKTS vào các thị trường này. Điều đó trở lên cấp bách hơn khi năm nay XKTS đòi hỏi một sự chuyển hướng thị trường mạnh mẽ.

Hiện nay, cả 6 phòng kiểm nghiệm ở 6 chi nhánh kiểm tra ATVS thủy sản trong cả nước đều có năng lực tương đương với các phòng kiểm nghiệm hiện đại nhất trong khu vực. “Việc kiểm tra mẫu để phục vụ xuất khẩu là hoàn toàn yên tâm. Vấn đề còn lại là phải kiểm tra tới tận ao nuôi, bàn ăn”- ông Cương khẳng định. Về vấn đề này, chính ông Hồ Quốc Lực, Giám đốc Công ty Sao Ta, một trong các doanh nghiệp hàng đầu về XKTS cũng khẳng định, thay vì chỉ tập trung kiểm soát tại các nhà máy, Nafiqaved cần tập trung vào khâu quản lý và kiểm tra chất lượng nguyên liệu. Muốn vậy, cần triển khai ngay việc phân vùng, đánh số vùng nuôi, cấp mã số cho các lô nguyên liệu để đáp ứng về yêu cầu truy xuất nguồn gốc sản phẩm của các thị trường. Hiệp hội chế biến và XKTS Việt Nam cũng đã đưa ra kiến nghị, các địa phương cần tăng cường trách nhiệm quản lý chất lượng sản xuất nguyên liệu trên địa bàn, thậm chí tạm dừng mua đối với những nơi có bơm tạp chất vào nguyên liệu.

Đương nhiên, những đòi hỏi đó là có cơ sở, căn cứ trên yêu cầu ngày càng cao của thị trường. Vì vậy, chuyện hướng đến sản xuất hàng hóa thủy sản sạch là chuyện phải làm nếu muốn giữ vững sức cạnh tranh. Năm 2004, cũng có thể là một năm “làm nên chuyện” của thủy sản Việt Nam ngay cả khi vụ kiện tôm dự báo nhiều khó khăn. Muốn vậy, theo Thứ trưởng Nguyễn Thị Hồng Minh, không được để xảy ra bất kỳ một rủi ro nào về ATVS. Bởi thế, Bộ Thủy sản cũng đã quyết định, sẽ hỗ trợ đào tạo về chất lượng và ATVS cho ngư dân, các cảng cá, chợ cá, cơ sở chế biến thủ công, cửa hàng bán thuốc thú y, thức ăn và bác sĩ thú y thủy sản. Đồng thời tổng kiểm tra hoạt động sản xuất, kinh doanh thức ăn… ở các cửa hàng bán buôn, bán lẻ trên cả nước nhằm bảo đảm ATVS cho thủy sản nuôi.

PHAN PHƯƠNG