|
|
|
Đảm bảo thủy sản "sạch" - Thành lập Cục quản lý chất lượng, ATVS và thú y thủy sản hoạt động
TBKTVN, 14/1/2004
Sau 9 năm hoạt động, Trung tâm kiểm tra chất lượng và vệ sinh thủy sản (Nafiqacen) đã được nâng cấp và đổi tên mới. Đầu năm mới 2004 này, Cục quản lý chất lượng, an toàn vệ sinh và thú y thủy sản (Nafiqaved) đã chính thức ra mắt (ngày 5/1).
Trong 9 năm qua, Nafiqacen đã cùng với các DN chế biến thủy sản Việt Nam, các cơ quan kiểm soát ATVS thủy sản các tỉnh, thành phố thực hiện thành công việc chuyển đổi hoạt động quản lý chất lượng thủy sản từ phương pháp cổ điển (lấy mẫu để kiểm tra chất lượng lô hàng cuối cùng) sang phương pháp kiểm soát quá trình theo nguyên lý nhận diện mối nguy an toàn thực phẩm (ATTP) và kiểm soát mối nguy tại nơi phát sinh.
Hàng thủy sản Việt Nam năm 2003 đã có mặt trên 75 nước và khu vực, tăng 30 nước và khu vực so với năm 1995, trong đó có những thị trường quy định rất khắt khe về an toàn vệ sinh như EU, Mỹ, Canada, Thụy Sỹ, Hàn Quốc... có phần đóng góp không nhỏ của Nafiqacen.
|
Cả năm 2003, chỉ còn 10 lô hàng thủy sản bị EU phát hiện nhiễm dư lượng kháng sinh, bằng 20% so với năm 2002; từ 15/7/2002 đến nay, không có lô hàng nào bị phát hiện lây nhiễm dư lượng Chloramphenicol, Nitrofurans |
“Năm cuối nhiệm kỳ" thành công...
Trong năm 2003 vừa qua, Nafiqacen đã triển khai có hiệu quả các biện pháp ngăn chặn nhiễm dư lượng kháng sinh vào thủy sản, góp phần dẫn tới việc EU tiếp tục duy trì chế độ kiểm tra thông thường đối với thủy sản VN, công nhận bổ sung 32 DN, tái công nhận 6 DN đã bị đình chỉ, nâng danh sách DN XK thủy sản vào EU lên 100 DN.
Đây cũng là năm Chương trình kiểm soát dư lượng các chất độc hại trong động vật và sản phẩm động vật thủy sản nuôi tiếp tục được mở rộng phạm vi tại 130 vùng nuôi thuộc 34 tỉnh, thành phố, với tổng sản lượng 339.635 tấn/5 loài thủy sản, tăng 14,5 lần so với năm 1995;
Duy trì Chương trình kiểm soát ATVS tại 12 vùng thu hoạch nhuyễn thể 2 mảnh vỏ thuộc 5 tỉnh, thành phố (tổng diện tích: 18.600 ha với sản lượng 190.000 tấn) và triển khai thí điểm Quy phạm thực hành nuôi tốt (GAP), Quy tắc nuôi có trách nhiệm (CoC)...
Các đơn vị của Nafiqacen đã thực hiện 1.800 lượt kiểm tra đăng ký sản xuất các cơ sở chế biến quy mô công nghiệp, trong đó 1.100 lượt trong danh sách XK vào EU; kiểm tra và trình Bộ Thủy sản bổ sung 71 DN đạt tiêu chuẩn ngành về đảm bảo ATVS, nâng tổng số DN đạt tiêu chuẩn ATVS lên 196 (đạt 53% tổng số cơ sở chế biến thủy sản quy mô công nghiệp).
Lập danh sách và đề nghị công nhận 199 DN XK thủy sản vào Hàn Quốc, 115 DN XK vào Thụy Sỹ, 106 DN XK vào Canada, 250 DN XK vào Trung Quốc;
Thực hiện 30 lượt góp ý mặt bằng nâng cấp hoặc xây dựng mới cho các DN;
Đào tạo HACCP cho 771 lượt cán bộ quản lý chất lượng và 21 lượt kiểm nghiệm viên cho các DN;
Hoàn thành 25 bộ tài liệu đào tạo về kiểm soát chất lượng, ATVS cho các cơ quan kiểm tra địa phương, chủ đầm nuôi, đại lý thu gom, tàu cá, cảng cá, chợ cá;
Tổ chức 6 lớp đào tạo giảng viên cho cơ quan kiểm tra địa phương, trên cơ sở đó phối hợp đào tạo kiến thức ATVS thủy sản cho 6.614 lượt người là ngư dân, chủ đầm nuôi, đại lý thu gom nguyên liệu...
Các chương trình kiểm soát đều được tăng cả về lượng và "chất": kiểm tra chứng nhận chất lượng ATVS 292.503,45 tấn thủy sản, bằng 125% so với năm 2002 và chiếm 61% tổng lượng hàng XK;
Kết quả kiểm tra đã góp phần giảm thiểu số lô hàng XK không đạt tiêu chuẩn ATVS XK.
Cả năm chỉ còn 10 lô hàng bị EU phát hiện nhiễm dư lượng kháng sinh, bằng 20% so với năm 2002 và từ 15/7/2002 đến nay, không có lô hàng nào bị phát hiện lây nhiễm dư lượng Chloramphenicol, Nitrofurans, hàng XK vào Hàn Quốc không giảm so với năm 2002.
Chỉ có 2 lô hàng bị phát hiện nhiễm vi sinh (18 tấn) so với 42 tấn năm 2002, hàng XK vào Mỹ tăng trưởng mạnh (tăng 40%) nhưng số lô hàng lây nhiễm chỉ tăng 14% so với cùng kỳ, tỷ lệ số hàng lây nhiễm trên tổng hàng xuất giảm...; kiểm tra dư lượng kháng sinh 2.939 lô hàng XK vào EU, Hàn Quốc, Canada.
Với sự đầu tư, nâng cấp mới, hai phòng kiểm nghiệm (chi nhánh 4, 5) tiếp tục được cơ quan công nhận của Việt Nam (VILAS) và của Singapore (SINGLAS) công nhận phù hợp tiêu chuẩn quốc tế ISO 17025; 4 phòng kiểm nghiệm còn lại (chi nhánh 1, 2, 3, 6) đã được VILAS kiểm tra và công nhận ISO 17025.
Nafiqacen cũng triển khai có hiệu quả những thoả thuận song phương với các cơ quan thẩm quyền Hàn Quốc (NFQIS), ký biên bản thoả thuận về kiểm tra dư lượng kháng sinh với Canada và chuẩn bị ký thoả thuận với Trung Quốc, Thái Lan...
"Quyền" cao - nhiệm vụ nặng
Ông Nguyễn Tử Cương, Cục trưởng Nafiqaved cho biết: "Khi sản lượng thủy sản đã vượt qua giới hạn 2,5 triệu tấn, trong đó diện tích nuôi trồng đã đạt trên 1 triệu héc ta, sản lượng nuôi trồng đã đạt 1,1 triệu tấn, những mối nguy mới về an toàn vệ sinh thực phẩm đã xuất hiện và yêu cầu phát triển nuôi trồng thủy sản gắn liền với an toàn dịch bệnh và nuôi trồng bền vững trở thành nhiệm vụ cấp bách.
Khi giá trị kim ngạch XK đã đạt trên 2 tỷ USD, mặt khác cùng với sự phát triển XK thủy sản của các nước khác, khả năng cung cấp thủy sản đã gần ngang bằng với yêu cầu sử dụng thì các loại rào cản kỹ thuật (TBT), rào cản an toàn thực phẩm và an toàn dịch bệnh (SPS) cùng với các loại rào cản thương mại khác sẽ ngày càng nhiều và khắt khe hơn".
Để đạt được mục tiêu XK 3 tỷ USD hàng thủy sản vào năm 2005 và cao hơn vào các năm sau, bên cạnh việc đẩy mạnh sản xuất nguyên liệu mà trọng tâm là nguyên liệu từ nuôi trồng, Chính phủ đã chủ trương đẩy nhanh tiến trình hội nhập nền kinh tế Việt Nam với khu vực và thế giới, trong đó quan trọng nhất là đáp ứng đầy đủ các điều kiện để gia nhập WTO vào năm 2005.
Một trong những hoạt động nhằm đạt mục tiêu này cho ngành thủy sản là Chính phủ đã ban hành Nghị định 43/NĐ - CP ngày 2/5/2003 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Thủy sản, và Bộ Thủy sản đã ban hành Quyết định 07/2003/QĐ - BTS ngày 5/8/2003 nâng cấp và đổi tên Trung tâm kiểm tra chất lượng và vệ sinh thủy sản (Nafiqacen) thành Nafiqaved.
Theo quyết định này, ngoài việc giữ nguyên nhiệm vụ quản lý chất lượng, ATVS thực phẩm thủy sản của Nafiqacen, Nafiqaved được giao thêm nhiệm vụ kiểm soát chất lượng, ATVS, an toàn dịch bệnh tất cả các yếu tố đầu vào (con giống, hệ thống ao đầm, thức ăn và thuốc thú y dùng cho thủy sản, các chất xử lý môi trường) và công tác phòng trừ dịch bệnh cho thủy sản.
Với chức năng, nhiệm vụ mới này, ngoại trừ nội dung bảo vệ động vật quý hiếm, Nafiqaved và cơ quan quản lý chất lượng, ATVS và thú y thủy sản các tỉnh, TP có trách nhiệm cùng với tất cả các cơ sở sản xuất (thức ăn, thú y thủy sản, chất xử lý môi trường, tàu cá, chủ đầm nuôi, cảng cá, chợ cá, đại lý thu mua nguyên liệu, cơ sở chế biến và tiêu thụ thủy sản) trong cả nước giải quyết các yêu cầu chất lượng, an toàn thực phẩm thủy sản, an toàn dịch bệnh thủy sản, bảo vệ môi trường và môi sinh được quy định trong TBT, SPS của WTO và các thị trường nhập khẩu trên thế giới.
Theo ông Cương, khó khăn lớn nhất của Nafiqaved và của các cơ quan cấp địa phương là kiến thức, thiết bị và kỹ năng phòng trừ dịch bệnh, bảo vệ môi trường và môi sinh.
"Tuy nhiên, với chủ trương của Nhà nước và của Bộ Thủy sản về an toàn thực phẩm, về an toàn dịch bệnh thủy sản đã rõ ràng; lực lượng hiện có đã được tôi luyện và tích luỹ được nhiều kinh nghiệm quý trong xây dựng hệ thống kiểm soát chất lượng, ATVS thực phẩm;
Luật thủy sản, Pháp lệnh ATTP đã và sẽ được thông qua trong quý I/2004, cùng với sự hỗ trợ và giúp đỡ của bạn bè quốc tế, sẽ là những thuận lợi rất cơ bản và quan trọng để hệ thống tổ chức quản lý chất lượng, an toàn vệ sinh và thú y thủy sản của ngành hoàn thành tốt nhiệm vụ".
Ngay trong năm 2004 này, Nafiqaved đã đề ra mục tiêu
Xây dựng phương án và triển khai hệ thống tổ chức quản lý chất lượng, ATVS từ trung ương đến địa phương; Đẩy nhanh tiến trình hoàn thiện hệ thống văn bản pháp quy, pháp chế kỹ thuật về kiểm soát chất lượng, ATVS và thú y thủy sản; Tiếp tục thực hiện các hoạt động kiểm soát ATVS thực phẩm thủy sản theo quan điểm quản lý quá trình "từ ao nuôi đến bàn ăn"; Từng bước tổ chức triển khai hoạt động kiểm soát an toàn dịch bệnh, kiểm soát nhập khẩu, sản xuất, kinh doanh thuốc thú y, hoá chất, chế phẩm sinh học; Tăng cường hợp tác quốc tế, xúc tiến ký kết các thoả thuận song phương với cơ quan thẩm quyền các thị trường nhằm tháo gỡ các rào cản TBT, SPS. |
Thời báo Kinh tế Việt Nam
Đức Nguyễn - (14/01/2004)